BỆNH NGHỀ NGHIỆP

 

Liệu các tỷ lệ ung thư trung biểu mô màng phổi ở Thụy điển có cảnh báo kinh tế Châu Á

về hậu quả xấu trong tương lai khi tăng sử dụng amiăng? 

 

Anders Englund

Cơ quan chuyên trách về môi trường lao động, S-171 84 SOLNA, Thụy Điển

 

         Mục đích của nghiên cứu này là chỉ ra những thay đổi về tỷ lệ mới mắc ung thư trung biểu mô màng phổi có liên quan đến nhập khẩu Amiăng ở Thụy điển và trên cơ sở đó gợi ư những hậu quả của việc tăng tiêu thụ Amiăng trong kinh tế Đông Nam á.

Dịch vụ quốc gia về y học lao động cho toàn bộ ngành công nghiệp xây dựng ở Thụy Điển từ 1969-1993  (BYGGHALSAN) thường xuyên khám sức khỏe cho tất cả các công nhân và trong nghiên cứu hồi cứu những hồ sơ này được kết  hợp với số liệu của cơ quan đăng kư ung thư quốc gia được thành lập năm 1958.
Các phương pháp truyền thống được sử dụng để nghiên cứu tỷ lệ mới mắc ung thư cho đến năm 1998 trong một thuần tập gồm 370.165 công nhân nam xây dựng được khám từ năm 1971-1992. Tỷ lệ mới mắc ác tính liên quan đến Amiăng được xác định bằng sự kết hợp so sánh với quần thể nam giới chung.
Tỷ lệ mới mắc ung thư trung biểu mô màng phổi trong nam giới đă tăng lên nhanh chóng từ cuối những năm 1970, sau 25-30 năm bắt đầu nhập khẩu nhiều Amiăng. Nhập khẩu Amiăng được cân bằng vào những năm 1990 và hiện nay dường như giảm sau 25 năm chấm dứt hoàn toàn nhập khẩu vào giữa  những năm 1970. Tuy nhiên, ở công nhân xây dựng tiếp xúc với Amiăng, mới đây thấy tăng tỷ lệ mới mắc.
Không có lư do nào để tin rằng không có sự chậm trễ kéo dài tương tự  từ khi tăng sử dụng Amiăng đến khi tăng tỷ lệ mới mắc về căn bệnh ác tính gây tử vong ở kinh tế Châu á như đă thấy ở kinh tế Phương Tây. Do tăng nhập khẩu và sử dụng quá mức hiện nay, không có những trường hợp hôm nay không thể chứng tỏ là không có tác hại. ở những công nhân-người sử dụng cuối cùng điển h́nh như trong ngành công nghiệp xây dựng, có thể c̣n rất khó xác định bệnh tật quá mức mặc dầu có sự tồn tại thực của bệnh.

 

 

Đặc điểm bệnh bụi phổi-silic trong công nhân khai thác than ở Thái nguyên 

 

Nguyễn Ngọc Anh

Đại học Y khoa Thái Nguyên

 

         Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả đặc điểm bệnh bụi phổi-silic ở công nhân công ty khai thác than Nội Địa ở Thái Nguyên. Phương pháp nghiên cứu được tiến hành là phương pháp mô tả cắt ngang. Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ 1041 công nhân trực tiếp khai thác và vận chuyển than có tuổi nghề từ 5 năm trở lên tại hai mỏ than Núi Hồng và Khánh Hoà.

Kết quả cho thấy: Môi trường lao động bị ô nhiễm bụi nặng, nồng độ bụi toàn phần và bụi hô hấp đều vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần. Hàm lượng SiO2 tự do trong bụi cao (17,0 %   ±  2,0 %, 18,5  %   ±  2,5 %). Tỷ lệ mắc bụi phổi-silic chung là 11,62 %, trong đó nam là 13,98 %  nữ là 6,26 %  (P  <  0,001). ở nhóm tuổi nghề 5 - 10 năm, tỷ lệ mắc bệnh bụi phổi-silic là 6,38 %. Tuổi nghề trên 20 năm có tỷ lệ mắc cao nhất 21,53 %. Tỷ lệ mắc bệnh tăng lên theo tuổi nghề (P  <  0,001). Thể bệnh bụi phổi-silic gặp chủ yếu là thể 0/1p chiếm tỷ lệ 61 %. Có 30 %  số công nhân có biến đổi chức năng hô hấp và chủ yếu là suy giảm chức năng hô hấp dạng hạn chế (31/33 trường hợp).
Qua kết quả nghiên cứu cho thấy cần cải thiện điều kiện lao động để giảm tỷ lệ mắc bệnh bụi phổi-silic trong công nhân khai thác than Nội Địa ở Thái Nguyên.

 

 

Những biến đổi về khả năng chống ôxy hoá của bệnh nhân ung thư vú trước và sau xạ trị

 

Nguyễn Phương Anh*,  Nguyễn Nghiêm Luật**

* Bệnh viện K và **Trường Đại học Y Hà Nội

 

             Hoạt độ của các enzym chống ôxy hoá ở hồng cầu và trạng thái chống ôxy hoá toàn phần huyết tương ở 30 bệnh nhân ung thư vú trước và sau xạ trị và 30 đối tượng khoẻ mạnh ở nhóm chứng được đo bằng máy quang phổ.

Kết quả cho thấy giảm đáng kể hoạt độ của các enzym chống ôxy hoá ở hồng cầu Glutathione peroxit (GPx) và GR và trạng thái chống ôxy hoá toàn phần huyết tương ở các bệnh nhân ung thư vú so với nhóm chứng (p < 0,001). Các chỉ số này tăng lên ở ácc bệnh nhân ung thư vú sau khi phẫu thuật so với trước khi phẫu thuật (p < 0,001) và giảm đáng kể sau xạ trị so với trước xạ trị (p < 0,001). Nồng độ CA 15.3 chỉ số u trong huyết tương tăng đáng kể ở bệnh nhân ung thư vú so với nhóm đối chứng (p < 0,001). Các chỉ số giảm đáng kể ở bệnh nhân ung thư vú sau phẫu thuật so với trước phẫu thuật (p < 0,001) và cũng giảm đáng kể sau xạ trị so với trước xạ trị (p < 0,001). Có mối liên quan âm tính giữa các enzym chống ôxy hoá trong hồng cầu và Glutathione peroxit (GPx) với trạng thái chống ôxy hoá toàn phần huyết tương (r = - 0.37, p < 0.05, respectively) ở các bệnh nhân ung thư vú sau xạ trị.

 

Một vài nhận xét về t́nh h́nh sức khoẻ và bệnh tật của công nhân điện Thái nguyên 

 

Nguyễn Quốc Anh

Bệnh viện đa khoa Thái nguyên

Đỗ Hàm

Đại học y Thái nguyên

 

             Đề tài được thực hiện theo phương pháp dịch tễ học mô tả nhằm đánh giá t́nh h́nh sức khoẻ và bệnh tật ở công nhân ngành điện tỉnh Thái nguyên dựa vào việc khám sức khoẻ và làm các xét nghiệm cận lâm sàng.

 Kết quả cho thấy số công nhân có sức khoẻ loại I là 7,02 %, loại II, III, IV là 90,9 %, loại V là 2,02 %. Bệnh tai mũi họng chiếm 60,88 %, bệnh răng lợi là 15,93 %, bệnh mắt là 7,85 %, bệnh hệ tiêu hoá là 47,6 %, bệnh đường tiết niệu là 1,55 %, bệnh tim mạch là 8.08 %, và bệnh thần kinh là 1,55 %.
            Các tác giả kiến nghị cần phải kiểm tra sức khoẻ và bệnh tật thường kỳ cho công nhân từ đó có kế hoạch bảo vệ và nâng cao sức khoẻ cho từng nhóm đối tượng.

 

Bước đầu đánh giá ảnh hưởng của styren tới sức khoẻ công nhân chế tạo vật liệu polyme – composit 

 

Tô Vân Anh

Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường

  

Các tác giả đă tiến hành nghiên cứu thuần tập tương lai trong 2 năm về một số chỉ số sức khoẻ của nhóm công nhân có tuổi đời từ 18 – 45 làm việc trong môi trường ô nhiễm Styren. Các đợt nghiên cứu cách nhau 8 - 9 tháng. Kết quả cho thấy:
Tỷ lệ công nhân có cảm giác rất mệt mỏi sau ngày làm việc ở nhóm tiếp xúc là 17,8 %, nhóm chứng 6,7 %. Tỷ lệ công nhân khó ngủ và mất ngủ là 26,7 %  và 4,7 %  so với 17,8 %  và 0 %  tương ứng ở nhóm chứng. Số công nhân phải nghỉ ốm cũng cao hơn (19,4 %  so với 0 %). Kết quả thử các test thần kinh tâm lư như: Trí nhớ ngắn hạn giảm (số chữ nhớ ngắn hạn giảm từ 6,7 số xuống 5,4 số), tăng thời gian phản xạ đơn giản từ 220,06ms lên 265,08ms (p  <  0,05). Trên điện năo đồ (EEG)có sự giảm biên độ và chỉ số nhịp anpha, đồng thời tăng biên độ và các chỉ số của các sóng chậm têta (p  >  0,05). Tỷ lệ người có EEG biến đổi (chủ yếu là điện thế thấp) tăng lên 66,7 %  so với thời điểm bắt đầu nghiên cứu là 48,9 %.
Các tác giả nhận định là sự phơi nhiễm Styren đă có ảnh hưởng tới sự biến đổi của các chỉ số trên, tuy vậy chưa t́m thấy các trường hợp bệnh lư.

 

  

Tai nạn lao động trong công nhân ngành giao thông vận tải từ 1996 đến 2000 

 

Đào Thanh B́nh, Phạm Hải Yến, Hoàng Văn Học

Trung tâm Y tế – Giao thông vận tải

  

            Đề tài được tiến hành nhằm điều tra t́nh h́nh tai nạn lao động từ năm 1996 đến 2000; xác định những nguyên nhân gây tai nạn lao động; kiến nghị các giải pháp làm giảm tai nạn lao động.
            Qua hồi cứu hồ sơ của 175000 công nhân thấy có 2157 vụ tai nạn lao động xảy ra trong 5 năm. Trung b́nh có 40 ca tử vong mỗi năm. Tỷ lệ tai nạn lao động ở công nhân giao thông sông biển là cao nhất (1,96 %) và ở công nhân đường bộ là thấp (0,06 %). Tai nạn gây tử vong ở công nhân xây dựng cơ bản là cao nhất (0,2 %) và ở công nhân cơ khí đóng tàu là là thấp nhất.
            Các nguyên nhân chính gây tai nạn lao động là: (1) do người lao động và chủ doanh nghiệp không chấp hành đúng nội qui an toàn lao động; (2) do điều kiện lao động chưa tốt; (3) do người lao dộng chưa được tập huấn tốt về an toàn lao động; (4) do uống bia, rượu, nghiện hút hoặc sức khoẻ không tốt khi lao động; (5) do một số nguyên nhân khách quan khác.
            Các tác giả đề nghị cần có sợ phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan y tế và các cơ sở sản xuất; tăng cường mạng lưới vệ sinh viên; theo dơi và báo cáo chi tiết về tai nạn lao động; thay đổi công nghệ; cung cấp đầy đủ trang thiết bị bảo hộ và cải thiện điều kiện làm việc cho công nhân.

 

 

Phân bố dịch tễ học vùng nguy cơ cao của bệnh bụi phổi-silic tại miền trung Việt nam 

 

Viên Chinh Chiến, Phùng Thanh Tú và cộng sự

Viện Pasteur Nha trang

 

 

Đề tài được tiến hành nhằm cung cấp số liệu cơ bản cho chương tŕnh thanh toán bệnh bụi phổi-silic. Kết quả cho thấy tỷ lệ mẫu bụi vượt tiêu chuẩn cho phép là 55,7 %  trong đó bụi hô hấp là 56,7 %  và bụi toàn phần là 54,3 %. Trọng lượng trung b́nh của bụi hô hấp là 2,4  ±  0,16 mg/m3, và của bụi toàn phần là 11,4  ±  1,7 mg/m3. Hàm lượng Silic trung b́nh là 52,7  ±  2,6 %, tỷ lệ mẫu bụi có hàm lượng Silic tự do cao hơn 50 %  là 67,8 %. Tỷ lệ công nhân tiếp xúc là 70,4 %  và tỷ lệ tiếp xúc với bụi có nồng độ vượt tiêu chuẩn cho phép là 26,4 %. Các tác giả cho rằng cần có sự chăm sóc y tế thích hợp đối với thợ đá thủ công.

 

Môi trường lao động và sức khoẻ công nhân tại các doanh nghiệp cơ khí sử dụng công nghệ mới và các doanh nghiệp sử dụng công nghệ cũ

 

Nguyễn Đức Đăn và cộng sự

Trung tâm y tế dự pḥng Hà Nội

 

             Nhằm so sánh ảnh hưởng của môi trường lao động đối với sức khoẻ công nhân cơ khí ở các doanh nghiệp sử dụng dây chuyền công nghệ mới và công nghệ cũ tại Hà nội, một nghiên cứu hồi cứu đă được thực hiện tại 5 doanh nghiệp cơ khí gồm 1482 công nhân (2 sử dụng công nghệ cũ và 3 sử dụng công nghệ mới).

Kết quả cho thấy không có sự khác biệt về số đo các mẫu vi khí hậu giữa 2 dây chuyền sản xuất. Tiếng ồn ở cả 2 dây chuyền công nghệ đều cao hơn tiêu chuẩn cho phép. Nồng độ bụi tại các cơ sở sử dụng dây chuyền công nghệ cũ cao hơn tiêu chuẩn cho phép. Nồng độ hơi khí độc ở 2 dây chuyền đều nằm trong giới hạn tiêu chuẩn cho phép. Số công nhân có sức khoẻ loại I cao hơn ở khu công nghệ mới. Tỷ lệ công nhân mắc các bệnh mắt, tai mũi họng, tiêu hoá, cơ xương khớp, da liễu, nội tiết và tai nạn lao động ít hơn ở công nhân sản xuất trong dây chuyền công nghệ mới.
Các tác giả kiến nghị việc sử dụng các biện pháp an toàn lao động; chú ư về vấn đề vệ sinh công nghiệp; khám sức khoẻ định kỳ cho nhóm công nhân tiếp xúc; xác định và đánh giá các yếu tố nguy hiểm, độc hại tại môi trường lao động.

 

Các khía cạnh về y học lao động của dịch viêm đường hô hấp cấp ở Singapore 

 

David Koh*, C Fones, MK Lim, SE Chia, F Qian, S Emmanuel, NP Fong, G Koh, CT Kwa, BH Tan, KS Wong, W Ng, Z Muttakin, KB Tan, WN Chew, HK Tang, SM Ko

* Giáo sư, Khoa Y, Đại học Quốc gia Singapore, SINGAPORE

 

             Singapore bị ảnh hưởng bởi vụ dịch Viêm đường hô hấp cấp tính thể nặng (SARS) từ ngày 25 tháng 2 đến ngày 31 tháng 5 năm 2003, với 238 ca bệnh và 33 trường hợp tử vong.

Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá những nhận thức về nguy cơ nhiễm SARS và các vấn đề có liên quan cũng như không liên quan đến công việc mà nhân viên y tế đang phải đối mặt (HCWs) ở Singapore do vụ dịch SARS gây ra.
Đây là một điều tra bằng bảng câu hỏi tự trả lời của 15 025 nhân viên y tế tại 9 cơ sở chăm sóc y tế từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2003. Điều tra trong tháng 7 bao gồm cả các bệnh viên cấp 3, bệnh viện tại cộng đồng và các bệnh viện đa khoa.
10511 bảng câu hỏi được gửi trả (tỷ lệ là 70 %). Những người tham gia vào nghiên cứu này bao gồm bác sĩ (9 %), y tá (43 %), dược sĩ/nhân viên vật lư trị liệu (3 %), nhân viên hành chính, văn pḥng hoặc kế toán viên (19 %), nhân viên phục vụ/vệ sinh viên (6 %), và những người khác (20 %). 2/3 (66 %) nhân viên y tế cảm thấy họ có “nguy cơ tiếp xúc với SARS” và 76 %  thấy “sợ mắc bệnh do SARS”. Phần lớn (96 %) cảm thấy việc thực hiện các biện pháp dự pḥng tại nơi làm việc là “có tác dụng” và 95 %  cảm thấy” vừa ḷng về cách giải thích để thấy rơ tầm quan trọng và cần thiết của họ”. 93 %  đồng ư rằng “cằn có những chính sách và những qui định rơ ràng để mọi người thực hiện theo” và 90 %  cho rằng những chính sách/qui định “đă được thực hiện một cách nhanh chóng”. Về những yêu cầu/khiếu nại, 92 %  cho rằng phần lớn nhân viên thực hiện đúng các biện pháp an toàn nhưng 72 %  cảm thấy khó khăn trong việc tuân thủ những biện pháp này.
Về ảnh hưởng đối với công việc, 56 %  cảm thấy “bị ức chế tại nơi làm việc”, 53 %  cảm thấy “gánh nặng lao động tăng lên”, 54 %  phải làm những việc “mà thông thường họ không làm”, trong đó 36 %  phải làm việc ngoài giờ.
Về ảnh hưởng đối với gia đ́nh và cuộc sống xă hội, 82 %  lo lắng đến việc lây truyền bệnh SARS cho các thành viên trong gia đ́nh, bạn bề, hoặc đồng nghiệp tại nơi làm việc. Phần lớn những người tham gia (87 %) cho rằng rằng “những người thân lo lắng cho sức khoẻ của họ”, và 69,1 %  cảm thấy “những người thân lo lắng v́ có thể mắc bệnh do tiếp xúc với họ” Khoảng một nửa (49 %) cho rằng “mọi người lẩn tránh họ do công việc của họ”. Về phía những người ủng hộ, 82 %  số người tham gia điều tra cảm thấy “được đánh giá cao bởi những nhà quản lư bệnh viện/pḥng khám nơi họ làm việc” nhưng 77 %  cảm thấy “họ được xă hội đánh giá cao”.
Phần lớn nhân viên Y tế ở Singapore nhận thức được nguy cơ lớn do việc tiếp xúc với SARS tại nơi làm việc và lo sợ bị bệnh. Ho cảm thấy tăng stress và gánh nặng lao động tại nơi làm việc và lo lắng đến sức khoẻ của những người thân. Tuy nhiên, phần lớn số họ đă sử dụng các biện pháp dự pḥng được xem là có hiệu quả. Họ cũng cảm thấy rằng những chính sách và qui định được thực hiện tại nơi lam việc là rơ ràng và thực tế.
Nghiên cứu này được tài trợ bởi dự án R - 186 - 000 - 058 - 712 do văn pḥng Khoa học cuộc sống, Đại học Quốc gia Singapore.

 

 

Khảo sát thực trạng nhiễm độc hoá chất trừ sâu ở công nhân nông trường cà phê 719 Đắc Lắc 

 

 Bùi Vĩnh Diên, Vũ Đức Vọng và cs

Viện VSDT Tây nguyên

  

     Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên đă nghiên cứu về ảnh hưởng của hoá chất trừ sâu tới sức khoẻ công nhân nông trường cà phê 719, kết quả cho thấy:
    Thực trạng sử dụng hoá chất trừ sâu ở nông trường c̣n nhiều bất cập trong khâu quản lư và sử dụng. Nhận thức của công nhân về tính chất độc hại chưa đầy đủ, thiếu bảo hộ lao động (69,4 %  nam công nhân và 49,4 % nữ công nhân không sử dụng bảo hộ khi phun hoá chất).
Lượng hoá chất bám dính trên da ở bàn tay và cẳng tay của công nhân phun thuốc trung b́nh là 5,330 ± 3,600 mg/100 cm2 da. ở vùng lưng và thắt lưng là 2,910 ± 2,200 mg/100 cm2da, ở cẳng chân và đùi: 3,770± 2,910 mg/100 cm2 da. Trong số người được xét nghiệm máu xác định hoạt tính men Cholinesterase 23,96 %  có biểu hiện nhiễm độc mạn hoá chất trừ sâu lân hữu cơ với mức độ nhẹ (giảm 10 - 20 %  men cholinesteraza hồng cầu), 17,71 %  ở mức độ vừa (giảm 21 - 30 %  men cholinesteraza hồng cầu). Mức độ nhiễm độc nặng (giảm  >  30 %  men cholinesteraza hồng cầu) là 7,29 %.
Y tế cơ quan, y tế chuyên ngành cần cảnh báo và khuyến cáo cho công nhân biết, đồng thời nên có biện pháp pḥng chống hiệu quả.

 

Người lái xe tảI có thùng chở hàng tiếp xúc với benzene và những chất dung môi hữu cơ khác trong quá tŕnh chất sản phẩm Gasoline 

 

Doo Yong Park, Dae Sung Lim, Byung Moo Park, Gwang Yong Lee

Trường đại học Hansung Seoul, Hàn Quốc

 

         Một vài sản phẩm dầu mỏ có chứa Benzen mà người ta biết nó là chất gây ung thư cho người. Thí dụ, sản phẩm Gasolin chứa Benzen khoảng 1 - 5 %  trọng lượng. Nghiên cứu này được tiến hành để đánh giá nguy cơ cho người lái xe tải do tiếp xúc với Benzen và các Hydrocarbon khác trong quá tŕnh chất sản phẩm Gasoline lên xe.

Tổng số 175 mẫu (chủ yếu mẫu cá nhân) được thu thập, sử dụng các ống tuưp than hoạt chuẩn và bơm lấy mẫu không khí cá nhân trong quá tŕnh chất hàng (thường trong 15 phút) vào mùa đông, mùa thu& mùa xuân. Các mẫu được phân tích, dùng GC - FID. Trung b́nh toán học (GM) của nồng độ Benzen ở mẫu cá nhân là 0,82 ppm (0,02 - 8,09 ppm) về mùa đông, 0,99 ppm (0,18 - 4,75 ppm) về mùa xuân và 1,27 ppm (0,35 - 3,53 ppm) trong quá tŕnh chất hàng. Các mẫu ở khu vực cũng được lấy và phân tích ở các trạm chất hàng. Nồng độ trong không khí thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn TWA - 8 giờ. Trong số các Hydrocacbon, MTBE ở nồng độ tương đối cao. C̣n các hoá chất khác, nồng độ đều cực thấp so với giới hạn tiếp xúc nghề nghiệp.
Người ta đă biết rằng, mức tiếp xúc giữ vai tṛ quan trọng trong việc gây bệnh bạch cầu. Do đó, lái xe tải có thùng chở hàng phải được bảo vệ thích hợp, đặc biệt dù mỗi lần chất hàng chỉ mất 15 - 20 phút.

 

Nghiên cứu sự biến đổi mao mạch ngón tay của công nhân quốc pḥng sử dụng máy rung cầm tay                       

 

Lê Khắc Đức

Học viện quân y

  

Sử dụng máy rung cầm tay lâu ngày có nguy cơ gây tổn thương mao mạch các ngón tay, mặt khớp và cũng có thể là nguyên nhân gây bệnh rung chuyển nghề nghiệp. Đề tài được tiến hành trên 72 công nhân cơ khí bằng phương pháp đo độ rung và soi mao mạch để đánh giá mức độ rung của các máy rung cầm tay và tác hại của nó đối với các mao mạch ngón tay.
Kết quả cho thấy rằng hầu hết các máy mài có tần số rung giao động từ 5 đến 250 Hz và đều vượt tiêu cho phép từ 1,5 – 10 lần. 29 %  số công nhân (21/72) có biến đổi về màu sắc, h́nh thể, số lượng và tính co thắt ở các mao mạch ngón tay.
Tác giả đề xuất một số biện pháp dự pḥng như biện pháp kỹ thuật, giảm thời gian sử dụng các dụng cụ rung và Egônômi để pḥng chống bệnh rung nghề nghiệp.

 

 

Nghiên cứu t́nh h́nh bệnh bụi phổi Silic ở một số xí nghiệp Quốc pḥng và giải pháp khắc phục 

 

Nguyễn Kim Dung và cs.

Viện Vệ sinh Pḥng dịch Quân đội

  

Nghiên cứu được tiến hành để đánh giá t́nh h́nh ô nhiễm bụi Silic ở 04 xí nghiệp cơ khí quốc pḥng  (Z153- TCKT; X19/5- QK4; Z127; Công ty Ba Son-TCCNQP.) và t́nh h́nh mắc bệnh bụi phổi-silic ở 757 công nhân làm việc trực tiếp với bụi Silic.
Định lượng bụi tổng số trong không khí tại nơi lao động và tỷ lệ  % Si02 trong bụi. Khám phát hiện bệnh bụi phổi-silic ở người lao động và đo chức năng hô hấp để đánh giá mức độ tổn thương phổi. Đánh giá kết quả giám định Y Khoa bệnh nghề nghiệp trong 3 năm  (1998- 2000).
Kết quả nghiên cứu cho thấy nồng độ bụi tại 4 xí nghiệp đều cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 6,5 đến 11 lần. Tỷ lệ mắc bệnh bụi phổi cao ở những người tiếp xúc trực tiếp có tuổi đời từ 35 - 50 tuổi  (chiếm 62,29 %), có tuổi nghề từ 11-20 năm  (chiếm 73,14 %). Mật độ bụi Silic trong phổi trên phim X-quang  (theo ILO) là 1/0P  (44,9 %) và 0/1P  (55,04 %). Số người giảm chức năng hô hấp nhẹ là 106  (20,74 %), vừa 12 (2,34), nặng 1 (0,19 %). Kết quả giám định bệnh nghề nghiệp trong 3 năm cho thấy tỷ lệ mắc bệnh bụi phổi-silic chiếm cao nhất trong tổng số các BNN đă được giám định  (> 56 %).
Cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật như các chu tŕnh sản xuất khép kín, có hệ thống thông gió tại chỗ, khu vực phát sinh bụi nhiều cần cách ly, cơ giới hoá sản xuất;,biện pháp Y tế: Định kỳ kiểm tra môi trường lao động, khám bệnh nghề nghiệp, gửi giám định khi người lao động mắc bệnh bụi phổi-silic và biện pháp cá nhân: Tuyên truyền giáo dục cho người lao động hiểu biết tác hại của bụi Silic và tự giác xử dụng trang bị bảo hộ lao động.

 

 

Nhiễm độc oxytcacbon trong môi trường áp suất thấp và hiệu quả điều trị của oxy 

 

Ngô Tiến Dũng

Học viện quân y

 

             Nghiên cứu được tiến hành trên 120 chuột nhắt trắng 8 - 10 tuần tuổi, có trọng lượng trung b́nh 20,1  ±  1,2  gr. để xác định một số đặc điểm nhiễm độc và hiệu quả cấp cứu bằng Oxy.

Số động vật thực nghiệm được chia làm 5 nhóm, mỗi nhóm 24 con. Nhóm 1: Nhóm đối chứng. Nhóm 2: Chuột bị nhiễm độc Oxytcacbon ở điều kiện áp suất b́nh thường. Nhóm 3: Chuột bị nhiễm độc Oxytcacbon ở điều kiện áp suất thấp. Nhóm 4: Chuột bị nhiễm độc Oxytcacbon ở điều kiện áp suất b́nh thường được điều trị bằng Oxy. Nhóm 5: Chuột bị nhiễm độc Oxytcacbon ở điều kiện áp suất thấp được điều trị bằng Oxy. Các chỉ tiêu được theo dơi như thời gian xuất hiện các triệu chứng, sức bền hồng cầu và hàm lượng Cacboxyhemoglobin trong máu chuột trong từng trường hợp nhiễm độc.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả các chỉ tiêu đều biến đổi mạnh sau nhiễm độc Oxytcacbon. Trong điều kiện môi trường áp suất thấp, những biến đổi này diễn ra mạnh hơn so với điều kiện b́nh thường. Oxy liệu pháp cho hiệu quả điều trị tốt trong cả hai trường hợp nhiễm độc.

 

  

Bệnh bụi phổi-silic trong công nhân một số ngành nghề ở Thái Nguyên 

 

Đỗ Hàm, Nguyễn Ngọc Anh, Nguyễn Thị Thu Hà

Trường đại học Y khoa Thái nguyên

 

 Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện tại 4 dây chuyền công nghề gồm than, luyện kim đen, luyện kim màu và xi măng để đánh giá t́nh h́nh ô nhiễm bụi và bệnh bụi phổi-silic.

Kết quả cho thấy nồng độ bụi silic đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép tại cả 4 dây chuyền. Tỷ lệ công nhân bị bệnh bụi phổi-silic có tuổi nghề trên 5 năm là khá cao (công nhân than là 11,62 %, luyện kim đen là 9,7 %, luyện kim màu là 10,4 %  và xi măng là 11,87 %). Có sự liên quan giữa số công nhân mắc bệnh bụi phổi-silic và hàm lượng SiO2 trong môi trường lao động.
Các tác giả khuyến nghị cần có sự tham gia của các chủ doanh nghiệp vào công tác pḥng ngừa bệnh bụi phổi silic, nâng cao nhận thức của người lao động và thực hiện việc khám sức khoẻ định kỳ cho công nhân để phát hiện sớm các bệnh nghề nghiệp.

 

 

Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh bụi phổi silic ở công nhân sản xuất vật liệu xây dựng 

 

Lê Thị Hằng, Đào Xuân Vinh, Nông Văn Đồng, Lê Mạnh Kiểm

Trung tâm Y tế Bộ xây dựng

Lê Khắc Đức

Học Viện Quân Y

 

 

Đề tài được thực hiện theo phương pháp dịch tễ học mô tả có khảo sát môi trường lao động, khám lâm sàng, chụp X-quang phổi và đo chức năng hô hấp trên 1204 công nhân sản xuất vật liệu xây dựng.
Kết quả cho thấy: Nồng độ bụi silic cao hơn nồng độ tối đa cho phép. Tỷ lệ mắc bệnh bụi phổi-silic là 7,8 %  gồm các thể bệnh từ 1/0p đến 2/1q. Ngoài ra, có 77 trường hợp bụi phổi-silic 0/1p (6,4 %).
Các tác giả kiến nghị rằng việc thiết kế, lắp đặt hệ thống thông gió cùng với việc sử dụng phương tiện bảo về cơ quan hô hấp (khẩu trang) là cần thiết trong việc pḥng bệnh bụi phổi-silic.

  

 

Bước đầu nghiên cứu về t́nh h́nh sức khoẻ, bệnh tật và tai nạn lao động

ở công nhân xí nghiệp luyện kim màu II Thái nguyên (2000 - 2002) 

 

Vũ Thị Thu Hằng

Xí nghiệp luyện kim màu II Thái Nguyên

 

 

Một nghiên cứu hồi cứu nhằm để đánh giá t́nh h́nh sức khoẻ và bệnh tật ở công nhân luyện kim đă được tiến hành tại Xí nghiệp luyện kim màu II Thái Nguyên từ 2000 đến 2002.
Kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh tăng theo tuổi nghề từ năm 2000 đến 2002, nhất là các bệnh về tai mũi họng, răng hàm mặt (20 – 89 %). 71,6 %  số công nhân có sức khoẻ loại I, II, và III; 28,4 %  số công nhân có sức khoẻ loại IV, V. Tỷ lệ tai nạn nghề nghiệp là 1,2 - 2,4 %.
Tác giả kiến nghi việc cải thiện điều kiện lao động, giảm ô nhiễm môi trường, đồng thời có kế hoạch về chăm sóc y tế cho công nhân.

 

 

Thực trạng sức nghe của công nhân tiếp xúc với dung môi hữu cơ ở một số cơ sở sản xuất 

 

Hoàng Thị Minh Hiền(1), Nguyễn Thị Toán(2), Nguyễn Thị Bích Liên(3)

(1) Viện BHLĐ

(2) Viện YHLĐ & VSMT

(3) Đại học Y Hà nội

 

 

Điều tra được tiến hành trên 300 công nhân tiếp xúc với dung môi hữu cơ tại công ty da giày Phúc Yên, công ty da giày Yên Viên, công ty sơn tổng hợp Hà Nội và công ty nhựa Hưng Yên nhằm đánh giá thực trạng sức nghe của công nhân.
Kết quả cho thấy tỷ lệ giảm sức nghe là 16,3 %, trong đó giảm sức nghe ở công nhân công ty sơn là 21,9 %, ở công nhân công ty da giầy là 14,4 %  và công nhân công ty nhựa là 12,9 %. Nguy cơ giảm sức nghe tăng theo sự có mặt của các yếu tố độc hại trong môi trường lao động.
Các tác giả đă đưa ra khuyến nghị như không tuyển dụng những người giảm sức nghe trên 25 dBA vào công việc có tiếp xúc với dung môi hữu cơ; bổ sung chỉ tiểu đo sức nghe trong khám bệnh nghề nghiệp đối với công nhân tiếp xúc với dung môi hữu cơ.

 

Phân tích t́nh trạng tiếp xúc nghề nghiệp với phóng xạ tại bệnh viện 103 năm 1994. 

 

Nguyễn Minh Hiếu

Khoa bệnh nghề nghiệp Bệnh viện 103

  

Năm 1994 chúng tôi đă nghiên cứu mối quan hệ giữa hệ thống bảo vệ phóng xạ và sự phân bố liều tiếp xúc của 32 nhân viên y tế thuộc bệnh viện 103. Để đánh giá hiệu quả toàn thể hệ thống bảo vệ phóng xạ tại bệnh viện; liều cá nhân, liều tích luỹ hàng tháng và liều cả năm đă được đánh giá bằng phương pháp tính toán thông thường và bằng phương pháp phân tích phân bố liều, trên cơ sở phân chia các đối tượng thành các nhóm nhỏ theo một số yếu tố liên quan.
Kết quả đánh giá cho thấy: Liều cá nhân năm 1994 tại bệnh viện thấp hơn nhiều so mức mức chuẩn liều 4,2 mSv hàng tháng được Viện năng lượng nguyên tử Việt nam (VAEC) quy định dựa trên khuyến cáo 26 của Uỷ ban an toàn phóng xạ quốc tế (ICRP Publication 26). Sự phân bố liều hàng tháng dưới dạng Log – normal là phù hợp cho tất cả các liều, tương tự như đă được đề cập trước đây của nhân viên y tế. Tuy nhiên, phần lớn các liều  < 0,3 mSv phân bố ở dạng Hybrid log - normal, điều đó cho thấy hiệu quả của nỗ lực giảm liều. Liều hàng tháng được phân chia theo nhóm bác sỹ và kỹ thuật viên; theo khoa phóng xạ trị liệu và khoa X-quang; liều của từng người và của từng tháng cũng phân bố theo đặc điểm như vậy, có nghĩa là, phân bố dạng Log - normal cho tất cả các liều, c̣n Hybrid log - normal là cho các liều  <  1mSv.
Kết quả nếu trên cho thấy việc phân tích phân bố liều một cách kỹ càng có thể minh chứng được những nỗ lực nhằm giảm liều tiếp xúc phóng xạ tại bệnh viện và giúp đánh giá tổng thể hiệu lực của hệ thống bảo vệ phóng xạ, thực hiện khuyến cáo của ICRP năm 1990 về sự tiếp xúc phóng xạ là: Cần được duy tŕ ở mức “thấp nhất có thể được”.

 

 

 

Ảnh hưởng của môi trường lao động nhà máy hoá chất - công ty giấy Băi Bằng đến sức khỏe công nhân 

 

Phùng Văn Hoàn, Nguyễn Thu Anh

Bộ môn Sức khoẻ nghề nghiệp,

Khoa Y tế cộng đồng, Đại học Y Hà Nội.

 

 

Qua nghiên cứu môi trường và điều kiện lao động của công nhân lao động trực tiếp, cán bộ văn pḥng tại nhà máy hoá chất công ty giấy Băi Bằng trong năm 2002 bằng phương pháp đo đạc môi trường, phỏng vấn công nhân và hồi cứu sổ khám bệnh, kết quả cho thấy:
Nhiều nơi tại khu vực sản xuất có nhiệt độ trung b́nh, độ ẩm, tiếng ồn ở dải tần 1000 Hz – 4000 Hz cao và nồng độ hơi khí độc (Cl2, NaOH) cao hơn tiêu chuẩn cho phép (TCCP). Các bệnh hay gặp trong công nhân là bệnh tai mũi họng (51,1%) và bệnh đường hô hấp (53,6%).
 Tỷ lệ hiện mắc của nhóm công nhân trực tiếp sản xuất cao gấp hơn 2 lần so với nhóm cán bộ văn pḥng (p  <  0,05). Tỷ lệ mắc bệnh dị ứng ở công nhân trực tiếp sản xuất cao gấp 1,4 đến 4,6 lần nhóm cán bộ văn pḥng.
Các tác giả đưa ra kết luận là môi trường lao động tại nhà máy hoá chất bị ô nhiễm cao, tỷ lệ bệnh hô hấp và tai mũi họng ở công nhân tại đây cao (>  50 %). Tỷ lệ hiện mắc bệnh dị ứng ở nhóm công nhân trực tiếp sản xuất cao hơn so với nhóm cán bộ văn pḥng.

 

 

Môi trường lao động và sức khoẻ công nhân Công ty giấy Băi Bằng, Phú Thọ 

 

Phùng Văn Hoàn, Nguyễn Phương Hiền

Khoa Y tế cộng đồng, Đại học Y Hà Nội.

  

Một nghiên cứu cắt ngang gồm đo môi trường và phỏng vấn trực tiếp được thực hiện trên 239 công nhân đồng thời hồi cứu hồ sơ sức khoẻ của 364 công nhân tại 4 nhà máy thuộc Công ty giấy Băi Bằng năm 2000.
Kết quả nghiên cứu cho thấy nhiệt độ Yagllo cao hơn tiêu chuẩn cho phép tại 2/4 vị trí đo; tiếng ồn (90dBA) cao hơn tiêu chuẩn cho phép tại 5/9 vị trí đo; nồng độ bụi cao ở 5/7 vị trí đo và nồng độ hơi khí độc cao hơn TCCP ở 3/6 vị trí. Số công nhân có sức khoẻ yếu là 12,6 %; các bệnh thường gặp là tai mũi họng (53.8 %), răng hàm mặt (30.8 %). Tỷ lệ mắc bệnh bụi phổi là 1.8 %  và điếc nghề nghiệp là 1.8 %. Tỷ lệ bệnh tăng theo số năm tuổi nghề.
Tác giả kết luận rằng vấn đề ô nhiễm môi trường ảnh hưởng tới sức khoẻ người lao động, đặc biệt là những người lao động lâu năm.

 

 

Nghiên cứu hàm lượng ch́ và A-sen trong môi trường và trong máu của người sống tiếp giáp

với khu chế biến Kim loại màu Thái Nguyên  

 

Nguyễn Thị Quỳnh Hoa, Nông Thanh Sơn

Trường Đại Học Y Khoa Thái Nguyên

  

Nghiên cứu mô tả cắt ngang so sánh được tiến hành nhằm đánh giá hàm lượng ch́ - A-sen trong môi trường đất, nước, thực phẩm ở vùng tiếp giáp với xí nghiệp luyện kim  màu và xác định mối liên quan giữa hàm lượng Ch́ và A-sen trong đất, nước, thực phẩm với hàm lượng ch́ và A-sen trong máu của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ.
Nước thải của nhà máy Luyện Kim Màu  (NMLKM) và Trung tâm nghiên cứu sản xuất mỏ và luyện kim  (TTNCSXMLK); nước giếng đào của các hộ gia đ́nh; thực phẩm như rau, củ, quả được trồng tại các hộ gia đ́nh và mẫu đất ở các hộ gia đ́nh trong khu vực nghiên cứu và vùng đối chứng được phân tích. Các mẫu máu của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ sống liên tục ở khu vực nghiên cứu  từ  5 năm trở lên cũng được phân tích về hàm lượng Ch́-A-sen.
            Kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng ch́ trong nước thải tại ao thải của trung tâm thực nghiêm cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần, đặc biệt cách cửa thải 500m. Hàm lượng ch́ và A-sen trong đất ở vùng nghiên cứu cao hơn vùng đối chứng 1,2 đến 2,5 lần. Hàm lượng ch́ và A-sen trong nước sinh hoạt ở vùng nghiên cứu cao hơn vùng đối chứng 1,5 đến 6 lần. Hàm lượng ch́ và A-sen trong thực phẩm trồng ở vùng nghiên cứu cao hơn vùng đối chứng 6 đến 12 lần. Hàm lượng Ch́ và A-sen trong máu dân sống ở vùng nghiên cứu cao hơn vùng đối chứng 3 đến 80 lần.
Cần phải cải tạo và hoàn thiện hệ thống xử lư chất thải độc hại do NMLKM và TTTNSXMLK trước khi thải ra môi trường. Sử dụng hệ thống cấp nước sạch cho nhân dân khu vực sống tiếp giáp nhà máy, hạn chế sử dụng nước ngầm khu vực này, nên sử dụng nước máy. Có kế hoạch khám chữa bệnh phù hợp với mô h́nh bệnh tật của nhân dân sống ở vùng tiếp giáp.

 

 

Hoạt độ một số enzym chống ôxy hoá ở hồng cầu và trạng thái chống ôxy hoá toàn phần huyết tương của bệnh nhân ung thư cổ tử cung 

 

Khổng Thị Hồng* Nguyễn Nghiêm Luật và Nguyễn Bá Đức**

* Bệnh viện K Hà Nội

**Trường Đại học Y Hà Nội

 

             Hoạt động của các enzym chống ô xy hoá ở hồng cầu và và trạng thái chống ôxy hoá toàn phần huyết tương của 78 bệnh nhân ung thư cổ tử cung và 45 người khoẻ mạnh ở nhóm đối chứng được đo bằng quang phổ.

Kết quả nghiên cứu như sau: Hoạt độ của đột biến peroxit trong hồng cầu (SOD) và hoạt độ của peroxit glutathione (GPx) thấp hơn có ư nghĩa thống kê ở những bệnh nhân ung thư cổ tử cung so với nhóm chứng (p < 0,001 và P < 0,001). Mức huyết thanh TAS ở bệnh nhân ung thư cổ tử cung giảm ít so với nhóm chứng (p = 0.07). Nồng độ haemoglobin giảm có ư nghĩa thống kê so với nhóm chứng (p < 0,001).
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi gợi ư rằng hoạt độ yếu enzym chống ôxy hoá ở các bệnh nhân ung thư cổ tử cung có thể liên quan với tổn thương DNA trong stress ô xy hoá

 

 

Nhận xét đặc điểm lâm sàng và so sánh kết quả điều trị bệnh sycosis bằng dung dịch BSI và mỡ Neocort

ở công nhân khai thác than tại Thái nguyên

 

Trương Minh Hương, Nguyễn Quư Thái

 

Nhằm đánh giá đặc điểm lâm sàng của bệnh Sycosis trong công nhân khai thác than tại Thái Nguyên đồng thời để so sánh kết quả điều trị bệnh Sycosis bằng BSI và NEOCORT, đề tài được tiến hành trên 62 công nhân bị bệnh Sycosis.
Kết quả cho thấy các triệu chứng lâm sàng thường gặp của bệnh Sycosis là ngứa, sẩn đỏ, sẩn có mủ, sẩn mủ vỡ tiết dịch, sẩn chợt loét. Vị trí tổn thương thường gặp là ở đầu, râu, lông mày và rải rác toàn thân. Không có sự khác biệt về kết quả điều trị giữa 2 thuốc (p > 0,05). Khả năng tái phát bệnh sau 1 tháng điều trị của nhóm dùng NEOCORT cao hơn nhóm dùng BSI (p < 0,05).

 

 

Các chất độc mang từ nơi làm việc về nhà  

 

Karen L. Hipkins (1), Barbara L. Materna  (2),

Susan F. Payne (3), Luz C. Kirsch  (1)

 (1) Chương tŕnh Pḥng chống nhiễm độc ch́, Viện Y tế Công cộng, Oakland, Mỹ

 (2) Ban Y học lao động,  Sở Y tế California, Oakland, Mỹ

 (3) Chương tŕnh Pḥng chống nhiễm độc ch́, Sở Y tế California, Oakland, Mỹ

 

 Công nhân có thể mang về nhà cho các thành viên gia đ́nh các hợp chất độc hại trên quần áo, giày hoặc trên cơ thể, được gọi là “tiếp xúc mang về nhà.”  Các trường hợp đă được dẫn chứng bằng tài liệu bao gồm Ch́, Berili, Amiăng, hóa chất bảo vệ thực vật. Các phát hiện của Sở Y tế California, Chương tŕnh pḥng chống nhiễm độc Ch́ sẽ được tŕnh bày cùng với những khuyến nghị để dự pḥng.

Bụi ch́ công nhân mang về nhà đọng lại trên xe, đồ gỗ, thảm và trên sàn. Trẻ con với hành vi b́nh thường cho vào mồm và các thành viên gia đ́nh cầm quần áo của công nhân có thể nuốt hoặc hít phải ch́. Trẻ em cũng có thể ở trong hoặc ở gần môi trường ô nhiễm Ch́ như trong cửa hàng, hoặc cơ sở sản xuất tại nhà của họ hàng.
Mục tiêu của nghiên cứu là điều tra t́nh h́nh tiếp xúc ch́ nghi ngờ mang về nhà bằng cách xác nhận những người khác có nguy cơ. Xem xét các số liệu về các trường hợp xảy ra được báo cáo từ 1992 đến nay về các công nhân tiếp xúc với ch́, các thành viên trong hộ gia đ́nh và các chủ doanh nghiệp. Chương tŕnh Pḥng chống nhiễm độc Ch́ phối hợp với các Sở Y tế địa phương điều tra các tiếp xúc Ch́ nghi ngờ mang về nhà.  Các tác hại được biết ở nơi làm việc khẳng định mang về nhà được xác định cùng với các chủ doanh nghiệp, công nhân và gia đ́nh của họ.  Tiếp xúc với Ch́ được khẳng định nếu thành viên gia đ́nh và công nhân tiếp xúc với Ch́ ở nhà có nồng độ ch́ huyết >  10 micrograms/deciliter và nguồn ch́ ở nơi làm việc được xác nhận.
Kết quả cho thấy 42 trường được khẳng định là tiếp xúc với ch́ mang về nhà bao gồm 54 công nhân tại 42 nơi làm việc liên quan đến 80 thành viên trong hộ gia đ́nh, tất cả có nồng độ ch́ huyết >  10  microgram/dl. Các thành viên gia đ́nh tuổi dao động từ sơ sinh đến 28 tuổi có nồng độ Ch́ huyết từ 10 đến 52 microgram/dl; 84 % dưới 6 tuổi.  Nồng độ Ch́ huyết của công nhân dao động từ 10 đến 121 microgram/dl trong đó 25  (46 %) có nồng độ Ch́ huyết >  40 microgram/dl.  72 công nhân cùng làm việc mới được phát hiện với nồng độ ch́ huyết dao động từ 10 đến 164 microgram/dl.  Nơi làm việc phổ biến nhất là xưởng sửa chữa ḷ sưởi và đúc kim loại. 36 trường hợp  (86 %) được phát hiện khi làm xét nghiệm trẻ em trong chăm sóc sức khỏe ban đầu.
Nhiễm độc nghề nghiệp và nhiễm độc ở nhà có thể pḥng ngừa tiếp tục là các vấn đề nghiêm trọng; chúng ta không biết trường hợp xảy ra chính xác.

 

 

Thực trạng tiếng ồn và sức nghe của công nhân sửa chữa máy bay và thiết bị chuyên dụng

 thuộc tổng công ty hàng không Việt Nam

  

Nguyễn Quang Khanh, Đặng Ngọc Tuấn, Nguyễn Thị Toán

Viện Y học lao động và VSMT

  

Sau khi tiến hành đề tài khảo sát và đánh giá thực trạng tiếng ồn, sức nghe của công nhân sửa chữa máy bay và thiết bị chuyên dụng thuộc Tổng công ty Hàng không Việt Nam, kết quả nghiên cứu cho thấy:
- Công nhân sửa chữa máy bay và thiết bị chuyên dụng thuộc tổng công ty Hàng không Việt Nam phải tiếp súc với tiếng ồn cao. Nhiều vị trí khảo sát, tiếng ồn vượt mức giới hạn cho phép từ 4 – 27 dBA. ở các dải tần số, tiếng ồn đều cao ở tần số 1000 – 8000 Hz. Đây thực sự là loại tiếng ồn có thể nguy hiểm, rất dễ gây giảm thính lực, dẫn đến bệnh điếc nghề nghiệp.
- Tác động của tiếng ồn cao và thời gian tiếp xúc lâu dài, đă ảnh hưởng rơ rệt đến sức khoẻ của người lao động. Trong 132 đối tượng được đo kiểm tra, có 18 đối tượng bị giảm sức nghe (chiếm 13,6 %).
- Các tác giả đă đề nghị một số biện pháp dự pḥng các tác hại của tiếng ồn đối với người phải thường xuyên tiếp xúc với tiếng ồn cao.

 

 

Giám sát  và đánh giá sự tiếp xúc với dị nguyên từ súc vật thực nghiệm

 ở cơ sở nghiên cứu súc vật trung tâm 

 

Koen Verbist

Khoa dịch tễ học & thống kê sinh học,

pḥng thí nghiệm nghiên cứu Dịch tễ học phân tử,

Nijmegen, Phần Lan 

 

Mục tiêu nghiên cứu là giám sát & đánh giá sự tiếp xúc với dị nguyên và khảo sát khả năng xây dựng tiêu chuẩn tiếp xúc đối với dị nguyên nước tiểu chute (RUA). Trong công nhân pḥng thí nghiệm động vật có nhiều trường hợp dị ứng với súc vật ở người lao động, đặc biệt với RUA. Việc tiếp xúc này được xác định và đánh giá. Bụi thở hít được xác định qua lấy mẫu cá nhân và thử nghiệm khi công nhân làm vệ sinh và thay lồng nhốt. Bụi được phân tích RUA phương pháp miễn dịch enzyme, ngoài ra, c̣n xem xét khả năng xây dựng tiêu chuẩn tiếp xúc RUA. T́m cách tính giới hạn liều mức thấp (BMDL), dựa trên số liệu liều - đáp trả cho RUA, theo các nghiên cứu đă công bố.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, nồng độ trung b́nh toán học (GM) của RUA là 12,8 ng EQ/m3 ở buồng làm sạch (n = 2) và  < 0,08 ng EQ/m3 ở khoa động vật (n = 2). Nồng độ GM RUA là 39 ng EQ/m3 gặp ở vùng thở công nhân trong buồng làm sạch (n = 2 bên bẩn), là 0,61 ng EQ/m3 (n = 2 bên bẩn) và 0,12 ng EQ/m3 ở khoa động vật (n = 3). Cỡ hiệu quả tới hạn (CES) được đặt ra ở 5 %  tăng ở pḥng thí nghiệm động vật dị ứng với RUA, kết quả là BMDL), dựa trên số liệu liều - đáp trả cho RUA, theo các nghiên cứu đă công bố.
Đề tài đă kết luận, khi làm vệ sinh các lồng nhốt, sự tiếp xúc ở trên BMDL. Khuyến nghị can thiệp về vệ sinh lao động (VSLĐ), có thể làm giảm tới mức dưới BMDL được tính là 5 ng EQ/m3 x giờ lao động và được dùng để hướng dẫn sự tiếp xúc CDL.

 

 

Nghiên cứu ứng dụng định lượng Cotinin trong nước tiểu bằng sắc kư khí.

Xác định Cotinin niệu ở người không tiếp xúc và tiếp xúc nghề nghiệp với Nicotin.

  

Hà Huy Kỳ, Vũ Khánh Vân

Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường

 

             Hiện nay Cotinin niệu được lựa chọn làm chỉ điểm sinh học để đánh giá mức độ tiếp xúc và nhiễm độc Nicotin. Nghiên cứu thực nghiệm để ứng dụng quy tŕnh chiết tách mẫu và phân tích Cotinin bằng sắc kư khí được tiến hành tại pḥng thí nghiệm Sinh hoá huyết học Bệnh nghề nghiệp – Viện YHLĐ & VSMT. Cotinin trong nước tiểu được chiết bằng dung môi Dichlomethane trong môi trường kiềm mạnh, làm bay hơi, hoà tan cặn thu được trong 1ml Toluen rồi bơm vào buồng mẫu trên máy sắc kư khí với detector NPD, cột Rtx50, nhiệt độ buồng bơm mẫu: 2300 C, nhiệt độ detector: 3000 C. Kết quả thử nghiệm cho thấy:

Phương pháp có độ tin cậy và độ nhạy cao: giới hạn phân tích đạt 2,5 mg/l, hệ số biến thiên CV = 2,99 %, tỷ lệ thu hồi đạt 95,05 %, sai số - 4,95 %. Hàm lượng Cotinin trong nước tiểu người b́nh thường là 2,17 ± 1,94 mg/24 h (X ± s). Hàm lượng Cotinin niệu trung b́nh của công nhân tiếp xúc nghề nghiệp với Nicotin thu được là 11,16 ± 6,67 mg/24h.
            Định lượng Cotinin niệu, chất chuyển hoá của Nicotin được nghiên cứu ứng dụng lần đầu tiên ở Việt Nam. Đây là một hướng nghiên cứu tiến bộ trên thế giới trong việc đánh giá sự tiếp xúc với Nicotin, v́ vậy phương pháp này nên được nghiên cứu thêm để xác định trị số sinh học, ngưỡng Cotinin bệnh lư và mối liên quan giữa nồng độ độc của Cotinin với các triệu chứng bệnh lư của nhiễm độc Nicotin nghề nghiệp trong công nhân sản xuất thuốc lá.

 

 

Thực trạng môi trường lao động và t́nh h́nh bệnh bụi phổi-bông tại một số doanh nghiệp dệt sợi Thành phố Hồ Chí Minh 

 

Trịnh Hồng Lân và cs.

Viện Vệ sinh Y tế Công cộng TP. Hồ Chí Minh

  

Nghiên cứu được tiến hành ở 300 công nhân tiếp xúc với bụi bông nhằm đánh giá thực trạng điều kiện lao động và t́nh h́nh bệnh bụi phổi bông tại một số doanh nghiệp tại Tp. Hồ Chí Minh.
Kết quả nghiên cứu cho thấy môi trường lao động trong các phân xưởng dệt sợi nói chung là chưa tốt, ngoại trừ độ ẩm. Nhiệt độ quá cao, tốc độ gió quá thấp, 65 % các vị trí lao động có độ ồn vượt quá tiêu chuẩn cho phép (TCCP) và 41 % vị trí lao động có nồng độ bụi bông vượt TCCP.  Về t́nh h́nh sức khỏe, triệu chứng tức ngực gặp ở tất cả các nhóm công nhân trong dây chuyền dệt sợi, 52 % ở công nhân làm việc tại các máy xé bông, máy chải, 25 % ở máy sợi con và 18 % ở công nhân dệt. Các công nhân có triệu chứng lâm sàng ở giai đoạn C 1/2 chiếm tỷ lệ cao nhất  (18,7 %), triệu chứng giai đoạn C1 và C2 là 6 % và không phát hiện công nhân nào ở giai đoạn C3. Mức độ măc bệnh bụi phổi bông tương ứng với ô nhiễm bụi bông tại các phân xưởng dệt-sợi. Những nới có nồng độ bụi cao nhất như máy xé bông và máy chải th́ có tỷ lệ công nhân mắc bệnh bụi phổi bông  cao nhất. Về chức năng hô hấp, tại thời điểm sau lao động tỷ lệ công nhân có các hội chứng tắc nghẽn  (6,3 %) và hạn chế  (10 %) và phối hợp  (12,4 %) cao hơn hẳn so với đầu ca  (3,8 %, 12,4 % và 23,1 %).
Các tác giả đề xuất một số biện pháp để cải thiện môi trường làm việc và sức khỏe cho công nhân.

 

 

Thực trạng quản lư, sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật và  sức khoẻ người lao động 

 

Trần Ngọc Lan và cộng sự

Cục Y tế dự pḥng và pḥng chống HIV/AIDS

 

             Điều tra được thực hiện qua phỏng vấn 100 hộ gia đ́nh với 1667 lao động thường xuyên sử dụng hoá chất bảo vệ thuực vật (HCBVTV) tại 16 xă thuộc 8 tỉnh miền Trung và Nam nhằm thực hiện các mục tiêu sau (1) điều tra thực trạng t́nh h́nh quản lư và sử dụng HCBVTV tại một số vùng nông thôn; (2) điều tra t́nh h́nh tai nạn, nhiễm độc hoá chất và sức khoẻ người sử dụng HCBVTV. Dựa vào kết quả điều tra đề xuất các biện pháp tăng cường an toàn và pḥng chống nhiễm độc nghề nghiệp do HCBVTV.

Kết quả cho thấy 80 %  hộ gia đ́nh sử dụng HCBVTV; hộ sử dụng Gramoxone chiếm 66,5 %. 112 chủng hoá chất được sử dụng, trong đó thuốc trừ sâu là 59 loại, thuốc trừ bệnh là 31 loại và thuốc diệt cỏ là 22 loại; Monitor và Wofatox vẫn được sử dụng tại một số xă. 90 %  b́nh phun bị ṛ rỉ; 15 %  hộ gia đ́nh cất giữ thuốc tại những nơi không an toàn như bếp, buồng ngủ; trang thiết bị bảo hộ không thích hợp khi phun thuốc; kiến thức về an toàn sử dụng HCBVTV kém. Bệnh thường gặp là bệnh hô hấp, bệnh về tiêu hoá, tai mũi họng. Các triệu chứng hay gặp là các triệu chứng của hệ thần kinh TW như triệu chúng, dấu hiệu kích thích các tuyến quá mức. Có 199 trường hợp ngộ độc HCBVTV trong thời gian từ năm 2000 đến 6/2001 tại 14 xă điều tra; tỷ lệ ngộ độc do Padan là lớn nhất chiếm 29,14 %. 86,93 %  các trường hợp ngộ độc khi phun thuốc. Tỷ lệ tử vong do ngộ độc chiếm 2,51 %.
Dựa vào kết quả điều tra, tác giả kiến nghị như sau: Xây dựng và ban hành các văn bản pháp qui về an toàn VSLĐ trong sản xuất nông nghiệp, nhất là về an toàn sử dụng HCBVTV; tăng cường sự phối hợp giữa các ngành có liên quan; củng cố y tế cơ sở về cả nhân lực và cơ sở vật chất để có thể cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ nói chung và dịch vụ y tế lao động nói riêng. Tăng cườn tuyên truyền, giáo dục về an toàn VSLĐ trong sử dụng HCBVTV và các biện pháp bảo vệ sức khoẻ cho người lao động.

 

 

Đánh giá môi trường lao động, sức khoẻ công nhân ngành sản xuất chè tỉnh Yên Bái 

 

Nguyễn Thuư Lan

Trung tâm y tế dự pḥng Yên bái

 

             Để đánh giá môi trường lao động và sức khoẻ công nhân ngành sản xuất chè tại tỉnh Yên Bái, đề tài đă được tiến hành tại 6 doanh nghiệp chè.

Kết quả cho thấy 15,5 %  mẫu đo vi khí hậu, 12 %  mẫu đo tiếng ồn vượt tiêu chuẩn cho phép. Công nhân có sức khoẻ loại IV, V chiếm tỷ lệ 18 %. Bệnh thường gặp là các bệnh đường hô hấp, răng hàm mặt, bệnh da, thần kinh và bệnh phụ khoa.
Tác giả đưa ra một số kiến nghị như cung cấp trang thiết bị bảo hộ cho công nhân; thường xuyên đánh giá môi trường lao động; phân bổ lao động phù hợp với sức khoẻ công nhân; điều trị công nhân mắc bệnh; tổ chức khám phụ khoa định kỳ cho công nhân nữ 2 lần/năm.

 

 

Nghiên cứu một số đặc điểm điều kiện lao động, t́nh trạng sức khoẻ

và bệnh tật ở công nhân ngành cơ khí luyện kim năm 2002 

 

Hoàng Khải Lập, Đỗ Văn Hàm, Nguyễn Minh Tuấn,

Nguyễn Thị Hiếu, Đỗ Khánh Dương

Trường Đại học y khoa Thái nguyên

 

Đề tài được tiến hành tại 4 nhà máy cơ khí. Nhà máy Diezen Sông công, nhà máy luyện gang thuộc công ty gang thép Thái nguyên, xí nghiệp luyện kim màu II Thái nguyên và nhà máy thép Thủ đức, Hồ Chí Minh.
Kết quả cho thấy môi trường lao động bị ô nhiễm nặng. Các yếu tố độc hại chủ yếu là bụi, nhiệt độ cao, tiếng ồn và hơi khí độc. Sức khoẻ công nhân chủ yếu là loại III. Công nhân có sức khoẻ yếu có xu hướng tăng lên, loại tốt giảm đi. Các bệnh thường gặp là các bệnh tai mũi họng, hô hấp, răng hàm mặt. Bệnh bụi phổi chiếm tỷ lệ 11.7 %.
Các tác giả đề xuất các giải pháp cải thiện điều kiện lao động để đảm bảo sức khoẻ người lao động.

 

Điều tra đánh giá t́nh h́nh bệnh bụi phổi-silic tại một số xí nghiệp ở tỉnh Yên Bái 

 

Trương Công Lệnh

Trung tâm y tế dự pḥng Yên bái

  

Nghiên cứu được tiến hành tại 5 cơ sở sản xuất gồm khai thác đá, sản xuất xi-măng, sản xuất vật liệu xây dựng thuộc tỉnh Yên Bái nhằm đánh giá t́nh h́nh ô nhiễm bụi và bệnh bụi phổi-silic.
Kết quả cho thấy số mẫu bụi vượt tiêu chuẩn cho phép là 85 %. Tỷ lệ mẫu bụi có hàm lượng silic tự do từ 5 - 20 %  là 8 %, từ 1 - 5 %  là 75 %  và từ 1 %  là 17 %. Không phát hiện trường hợp mặc bệnh bụi phổi-silic nào.
Tác giả kiến nghị về việc cải tiến dây chuyền sản xuất, làm ẩm vật liệu khi nghiền, tăng cường hệ thống thông gió và cung cấp trang thiết bị bảo hộ cho công nhân.

 

 

Đánh giá môi trường lao động và t́nh h́nh bệnh phổi - phế quản

của công nhân khai thác than tại công ty Đông Bắc, Quảng Ninh 

 

Nguyễn Liễu

Khoa bệnh nghề nghiệp - Bệnh viện 103

Phạm Văn Tố

Khoa bệnh nghề nghiệp – Bệnh viện 175

  

Để đánh giá t́nh trạng môi trường lao động, t́nh h́nh sức khoẻ và bệnh nghề nghiệp của công nhân khai thác than gồm 755 người thuộc công ty Đông Bắc (Quảng Ninh), đề tài đă được thực hiện dựa vào việc khảo sát môi trường lao động, khám sức khoẻ, xác định bệnh ở 2 nhóm công nhân tiếp xúc và công nhân không tiếp xúc.
Kết quả cho thấy môi trường lao động bị ô nhiễm. Nhóm công nhân tiếp xúc với bụi có tỷ lệ bệnh phổi - phế quản (40,81 %), da, mắt, suy nhược thần kinh và bệnh tai mũi họng cao hớn so với nhóm không tiếp xúc. Bệnh phổi - phế quản chủ yếu là bệnh viêm phế quản mạn tính (19.3 %) và bệnh bụi phổi-silic (10.81 %). Có mối liên quan giữa tỷ lệ bệnh phổi - phế quản và thời gian tiếp xúc (r = 0,43).
Các tác giả kiến nghị rằng các biện pháp dự pḥng là cần thiết, đặc biệt là các giải pháp kỹ thuật làm giảm nồng độ bụi; cung cấp trang thiết bị bảo hộ cá nhân và thực hiện tốt các biện pháp an toàn lao động.

 

 

Đánh giá điều kiện lao động và sức khoẻ lao động nữ sản xuất nông nghiệp ở huyện Cái Bè - Tiền Giang            

 

Nguyễn thị Liễu

TT Y Tế Dự Pḥng Tiền Giang

  

Điều tra được tiến hành qua phỏng vấn 600 lao động nữ độ tuổi 18 - 55.
Kết quả cho thấy: Lao động nữ chiếm 51 - 54 %  trong 80 %  số lao động làm nông nghiệp. 85,5 %  tŕnh độ văn hoá cấp I và II. Nguồn nước sinh hoạt: Nước sông, ao hồ 36,7 %; giếng khoan 27,3 %. 94,8 %  c̣n sử dụng cầu ao cá. Hoá chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) sử dụng trên 2000 tấn/năm đủ các chủng loại. Monitor c̣n sử dụng 0,8 %. Nguồn cung cấp từ cửa hàng bán lẻ 86,4 %; 4,5 %  nữ phun hoá chất (HC) và 15,38 %  có triệu chứng ảnh hưởng sau khi phun. 97,6 %  lao động nữ làm việc trung b́nh 6 - 15 giờ/ngày; 78,8 - 81 %  có sức khoẻ loại I và II. T́nh h́nh bệnh tật hằng năm là 18,6 - 20 %, chủ yếu là các bệnh hô hấp, phụ khoa & cơ xương khớp. 12,33 %  sảy thai, 5,5 %  tai nạn do hoá chất. 97,05 %  chị em tham gia 1 - 2 lần/năm các chương tŕnh y tế tuyên truyền trong cộng đồng. 97,8 %  muốn biết về chăm sóc sức khoẻ phụ nữ & trẻ em;  75,5 %  có nhu cầu giảm phí khám chữa bệnh cho nữ; 90,2 %  quan tâm đến sức khoẻ lao động nữ.
Để chăm sóc sức khoẻ cho lao động nữ trong nông nghiệp tốt hơn chúng tôi có một số kiến nghị sau:
Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban ngành như Hội phụ nữ, Hội nông dân với chính quyền địa phương (Uỷ ban) trong việc chăm sóc sức khoẻ cho người sản xuất nông nghiệp đặc biệt là lao động nữ.
Nghiên cứu ban hành một số chế độ chính sách đồng thời xây dựng các văn bản pháp quy về ATVSLĐ cho người lao động sản xuất nông nghiệp.
Củng cố y tế cơ sở về cả nhân lực và cơ sở vật chất, nhất là các trạm y tế xă để có thể cung cấp các dịch vụ sức khoẻ nói chung và các dịch vụ Y tế lao động nói riêng cho lao động nông nghiệp. Nâng cao năng lực về phát hiện và pḥng chống các TNLAĐ nông nghiệp cho cán bộ y tế tuyến cơ sở để thực hiện công tác chăm sóc sức khoẻ có hiệu quả.
Tăng cường giáo dục và tuyên truyền về ATVSLĐ trong lao động nông nghiệp và các biện pháp bảo vệ sức khoẻ nhất là về hướng dẫn sử dụng an toàn HCBVTV.

 

Nhận xét về khả năng thực hiện chăm sóc sức khoẻ tại doanh nghiệp ở Thái Nguyên  

 

Lê Ngọc Luận, Ninh Trần Mă và cộng sự

Trung tâm Y tế dự pḥng Thái nguyên

 

             Đề tài được thực hiện tại 30 %  tổng số các doanh nghiệp đă đăng kư kinh doanh trên địa bàn tỉnh bằng phỏng vấn nhằm đánh giá t́nh h́nh chăm sóc sức khoẻ tại doanh nghiệp, hoạt động của y tế doanh nghiệp để từ đó chỉ đạo thực hiện công tác chăm sóc sức khoẻ công nhân tại doanh nghiệp trong thời gian tới.

Kết quả cho thấy số doanh nghiệp có biên chế y tế là 87,75 %, biên chế đúng tŕnh độ chỉ đạt 40,82 %. 53,06 %  doanh nghiệp có pḥng làm việc cho cán bộ y tế. 36,33 %  doanh nghiệp có hồ sơ quản lư sức khoẻ đúng mẫu.
Các tác giả đề nghị các huyện thị thống kê đầy đủ các doanh nghiệp đóng trên địa bàn, hướng dẫn, đôn đốc các doanh nghiệp tổ chức thực hiện chăm sóc sức khoẻ tại doanh nghiệp, và tạo điều kiện để y tế doanh nghiệp thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ḿnh.

 

 

Bước đầu đánh giá t́nh h́nh tai nạn thương tích ở tỉnh Nam Định trong hai năm  (2001-2002) 

 

Vũ Đức Lũ và cs.

Trung Tâm Y tế dự pḥng Nam Định

  

Trên cơ sở báo cáo thống kê t́nh h́nh tai nạn thương tích  (TNTT) tại Nam Định trong 2 năm  (2001-2002), các tác giả đă phân tích t́nh h́nh tai nạn xảy ra tại các địa phương trong tỉnh theo lứa tuổi, theo các loại h́nh TNTT.
Trong tổng số 12.858 trường hợp TNTT có 929 trường hợp, chiếm 7,23 % ở nhóm dưới 6 tuổi, 21,14 % ở nhóm từ 7-17 tuổi và 11,64 % ở nhóm trên 60 tuổi. Trong các loại TNTT, tai nạn giao thông chiếm tỷ lệ cao nhất, kể cả đối tượng trong nhóm dưới 18 tuổi và cao tuổi  (40 %).
Số TNTT trên 100.000 dân tại các địa phương có sự khác nhau. Các huyện có số tai nạn cao nhất là Nam Trực  (294,7), Hải Hậu  (426,6), Giao Thuỷ  (420,6), Xuân Trường  (454,9). Thấp nhất là các huyện Mỹ Lộc  (41,6), Vụ Bản  (61,3), và chung toàn tỉnh là 71,7/100.000 dân. Trung b́nh một ngày có 17 vụ tai nạn trong năm 2001 và 18,5 vụ trong năm 2002.
Các trường hợp nặng để lại di chứng là 10,2 % và chết là 1,77 %. Trong 227 trường hợp chết có 162 do tai nạn giao thông, 56 trường hợp  (24,67 %) do tai nạn lao động và 9  (3,96 %) trường hợp c̣n lại là do tranh chấp xung đột trong sinh hoạt tại cộng đồng.
Về ngộ độc hoá chất bảo vệ thực vật  (HCBVTV), các trường hợp cố ư và nhầm lẫn chiếm tỷ lệ cao nhất  (40,02 % và 52,82 %), đặc biệt là ở trẻ em  (nhầm lẫn là 87,25 %). Hoá chất gây ngộ độc do thuốc trừ sâu là 63,69 %, do thuốc chuột là 30,43 %.
Các tác giả đề nghị cần tăng cường công tác tuyên truyền, xă hội hoá công tác pḥng chống TNTT, kiên quyết và kịp thời thực hiện các biện pháp kỹ thuật và các qui định của pháp luật nhằm khống chế và làm giảm TNTT. Các tác giả đề nghị các ngộ độc do HCBVTV là một loại h́nh TNTT, cần đưa vào danh sách quản lư của chương tŕnh pḥng chống TNTT.
 

 

Các giải pháp về quản lư tiếp theo qua phân tích tai nạn 

 

Monique Lortie

Đại học Quebec, Montreal, Quebec, Canada

  

Nghiên cứu được tiến hành tại một xí nghiệp đang phải đối mặt với sự gia tăng về số ngày nghỉ việc do những rối loạn cơ xương trong công nhân ở bộ phận giao nhận.
Mục tiêu đầu tiên của nghiên cứu là xác định những nguyên nhân chính gây nên các rối loạn cơ xương để chấn chỉnh lại những biện pháp dự pḥng đang được ưu tiên áp dụng. Do việc công ty tiến hành cải tiến một hệ thống dây chuyền sản xuất quan trọng nên mục tiêu thứ hai là t́m hiểu xem tác dụng của việc cải tiến này ảnh hưởng đến vấn đề an toàn lao động như thế nào. Việc cải tiến này gồm việc thay đổi lịch làm việc từ 5 ngày xuống c̣n 4 ngày, giới thiệu các hạn ngạch về phân phối hàng toàn cầu thay v́ chỉ là những hạn mức thường ngày, hoặc chỉ là việc giới thiệu các loại xe và trang thiết bị mới.
Các hồ sơ về tai nạn trong giai đoạn 2 - 3 năm (trước và sau khi cải tiến hệ thống kỹ thuật) được thu thập (cỡ mẫu = 425) cùng với hồ sơ nghỉ việc nguyên nhân do rối loạn cơ xương gây nên. Ngoài các thông tin thông thường về tai nạn (nơi cơ thể bị tại nạn, loại tai nạn, cơ chế gây nên tai nạn), 7 tham số khác cũng đă được xác định nhằm xắp xếp các số liệu có tính chất miêu tả các hoạt động tại nơi làm việc. (ở đâu - vị trí và bề mặt nơi đứng - và những biện pháp trong trường hợp công nhân bị chấn thương) và hoàn cảnh xảy ra tai nạn (đặc biệt mô tả rơ các hoàn cảnh riêng và bất thường, báo cáo các tai nạn bất ngờ xảy ra và những khó khăn).
Kết quả: Nh́n chung các giải pháp kết hợp làm tăng chiều cao xe chở hàng và làm các điều kiện trở nên khó khăn hơn đều ảnh hưởng lớn đến quá tŕnh xảy ra tai nạn. Khi tai nạn bất ngờ xảy ra hay là khi làm việc trong những điều kiện khó khăn, th́ khả năng hồi phục cũng bị ảnh hưởng. Trong trường hợp này, vị trí xảy ra tai nạn thường là những công việc có liên quan đến lái xe tải hơn là tại khu vực khách hàng (33 %  so với 58 %). Tỷ lệ tai nạn liên quan đến việc giao nhận hàng cao gần gấp đôi (59 %  so với 32 %). Trong trường hợp đặc biệt hay khi điều kiện làm việc khó khăn, tỷ lệ tai nạn thường được ghi nhận là cao gấp hai lần (57 %  so với 33 %), điều kiện về khoảng không – cao hoặc xa - là yếu tố chính làm tăng tỷ lệ tai nạn cũng như làm tăng số tai nạn bất ngờ (53 %  so với 33 %). Tỷ lệ các chấn thương ở vai tăng lên từ 12 %  đến 46 %. Làm việc quá sức được xem là nguyên nhân gây nên chấn thương do “gắng sức đột ngột hoặc cử động bất thường tức thời” (18 %  so với 37 %). Khoảng 40 %  tai nạn liên quan đến việc khó khăn khi giữ thăng bằng.
Kết luận: Kết quả nghiên cứu chứng minh sự cần thiết phải có các biện pháp về quản lư nhằm đánh giá ảnh hưởng của các giải pháp đối với các điều kiện lao động liên quan.

 

  

Điều tra điều kiện lao động và những ảnh hưởng tới sức khoẻ của người làm việc với máy vi tính

 

Nguyễn Ngọc Ngà và cs.

Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường

 

             Nghiên cứu trên 305 nhân viên làm việc ở ngân hàng, bưu điện, nhà in nhằm điều tra điều kiện làm việc và ảnh hưởng của nó đến sức khoẻ người lao động.

Kết quả nghiên cứu cho thấy điều kiện làm việc chưa tốt; nơi làm việc chật, chiếu sáng và thiết kế vị trí lao động chưa Ecgônômi, thông khí kém, thời gian làm việc với máy vi tính kéo dài...Sau ca lao động trên 80 %  đối tượng than phiền về môi trường lao động và sức khoẻ của họ. Than phiền phổ biến nhất là: Ngột ngạt, không khí quá khô, mệt mỏi, đau đầu, chóng mặt, nh́n mờ, giảm thị lực, ngứa mắt.. Một số triệu chứng và than phiền liên quan rơ rệt đến thời gian làm việc với máy vi tính. 76 - 90 %  đối tượng than phiền đau mỏi cơ xương. Tỷ lệ đau mỏi của từng vị trí tuỳ thuộc tính chất công việc. Thử nghiệm thị giác trên Visiotest cho thấy sau ca lao động 64 %  đối tượng giảm thị lực, 80 %  đối tượng tăng thời gian cần thiết để thấy được h́nh ảnh nổi.
Một số khuyến nghị đă được đưa ra để bảo vệ sức khoẻ người lao động, như thiết kế lại vị trí lao động, cải thiện chiếu sáng, tăng cường thông khí, tổ chức lao động nghỉ ngơi hợp lư, quản lư tốt công tác khám tuyển, khám định kỳ...

 

Định lượng mangan trong nước tiểu bằng Cực phổ xung vi phân (DPP)

 

Đặng Minh Ngọc

Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường

 

Các tác giả tiến hành nghiên cứu phương pháp định lượng Mangan niệu bằng DPP để đưa vào ứng dụng trong chẩn đoán và theo dơi t́nh trạng nhiễm độc mangan. Kết quả thực nghiệm cho thấy:
Đối với mẫu nước tiểu, vô cơ hoá ướt với hỗn hợp 2 axit HNO3 và H2SO4 và đo Mn bằng DPP sử dụng điện cực giọt thuỷ ngân treo trong dung dịch đệm Natriborat có thêm Gelatin và axit Ascorbic, cho kết quả ổn định và chính xác. Với quy tŕnh đă thử nghiệm, kết quả phân tích thu được có độ tin cậy cao với CV %  = 1,76, d = 5,6 %. Giới hạn phân tích đạt được là 0,25 mg/l, khoảng tuyến tính giữa nồng độ Mn trong mẫu với cường độ ḍng rộng từ 0,25 đến 150 mg/l, r = 0,96. ứng dụng phương pháp trên vào phân tích nước tiểu của người b́nh thường và công nhân tiếp xúc nghề nghiệp với mangan tại nhà máy hợp kim sắt Thái Nguyên, kết quả thu được: Mangan niệu của người b́nh thường là: 7,14 ± 2,61 mg/l (x ± s), các kết quả dao động từ 1,6 đến 11,8 mg/l (n = 130), ở công nhân tiếp xúc nghề nghiệp: 16,89 ± 6,46  mg/l (x ± s), dao động từ 4,32 đến 38,88 mg/l (n = 60), cao hơn 2 - 3 lần với p  <  0,001.
Phương pháp định lượng Mangan trong nước tiểu bằng DPP có độ tin cậy và độ nhạy cao, các bước phân tích đơn giản, thuận tiện cho việc ứng dụng trong công tác y học thực hành. Đề nghị được đưa vào ứng dụng trong chẩn đoán và theo dơi nhiễm độc mangan.

 

Nghiên cứu ảnh hưởng của Hoá chất bảo vệ thực vật đến một số hệ izozym của người tiếp xúc trực tiếp           

           

Đặng Minh Ngọc, Tạ Thị B́nh,

Vũ Khánh Vân, Đinh Thục Nga

Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường

 

            Nghiên cứu tiến hành trên 30 công nhân tiếp xúc thường xuyên với hoá chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) tại công ty thuốc sát trùng Vipesco. Kết quả phân tích bằng điện di enzym và đo hoạt tính men ChE trong máu toàn phần của công nhân tiếp xúc trực tiếp với HCBVTV và nhóm người b́nh thường cho thấy:
Hệ izozym esterase (EST) có 7 cấu tử điện di, hệ izozym lactatdehydrogenase (LDH) có 5 cấu tử điện di, tương ứng theo chiều chuyển động từ cực âm đến cực dương. Giữa nhóm chứng và nhóm tiếp xúc không khác nhau về số loại cấu tử và tần số xuất hiện các cấu tử điện di. Tuy nhiên, có sự sai khác rơ rệt về mức độ đậm nhạt của các cấu tử điện di trên một bản gel thể hiện hoạt tính hệ izozym EST (băng Rf1, Rf5, Rf6) và hệ izozym LDH (băng Ldh - 3, Ldh - 4) giảm đi so với nhóm chứng. Số người tiếp xúc có biểu hiện giảm ChE hồng cầu chiếm tỷ lệ 10 %, số người giảm ChE huyết tương chiếm 36,6 %. Có sự biến đổi huyết học như giảm hồng cầu, giảm bạch cầu, giảm bạch cầu hạt trung tính.
Các tác giả thấy rằng những công nhân tiếp xúc có biểu hiện giảm men ChE cũng là những đối tượng có sự sai khác về hệ izozym EST và LDH

 

 

Mối liên quan giữa mức tiếp xúc qua đường hô hấp và hàm lượng A-sen trong máu, A-sen niệu

của công nhân luyện kim màu 

 

Đặng Thị Minh Ngọc

Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường

  

Tiến hành nghiên cứu trên 30 công nhân làm việc tại 2 phân xưởng Tuyển tinh và Thiếc của công ty luyên kim màu Thái Nguyên. Các công nhân được yêu cầu đeo máy lấy mẫu tiếp xúc cá nhân trong suốt ca lao động, đồng thời họ được xác định lượng A-sen trong máu và nước tiểu. Lượng A-sen trong các mẫu: Không khí, máu và nước tiểu được xác định bằng QPHTNT. Kết quả thu được cho thấy:
Nồng độ A-sen trong không khí dao động từ 0,26 - 1,34 mg/m3, 70 %  mẫu vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) từ 15 – 40 lần. Hàm lượng A-sen trong máu trung b́nh là 50,68 ± 15,8 mg/l, A-sen niệu 108,20 ± 36,68 mg/l. Cả A-sen máu và A-sen niệu của công nhân tiép xúc đều cao hơn rơ rệt so với người b́nh thường (p  <  0,001). Mối tương quan giữa hàm lượng A-sen niệu và A-sen trong không khí chặt chẽ (r = 0,84) với phương tŕnh: Y = 80,8. C + 78,32 mg/l (Y là hàm lượng A-sen trong nước tiểu, C: Nồng độ A-sen không khí (mg/m3). Trong khi đó, mối tương quan giữa A-sen máu và A-sen không khí, cũng như A-sen máu với A-sen niệu là không chặt chẽ (r = 0,04 và r = 0,25).
Các tác giả nhận thấy A-sen niệu là chỉ số tốt nhất trong theo dơi sự tiếp xúc và nguy cơ nhiễm độc A-sen.

 

 

Nghiên cứu bệnh giọng nghề nghiệp ở giáo viên tiểu học tại huyện Động anh, Hà nội 

 

Phạm Thị Ngọc - Bệnh viện tai mũi họng

Ngô Ngọc Liễn - Trường Đại học Y Hà nội

Lê Trung - Viện YHLĐ & VSMT

  

Mục tiêu của đề tài là t́m hiểu bệnh giọng nghề nghiệp ở giáo viên tiểu học. Phương pháp nghiên cứu là mô tả cắt ngang.
Trong số 385 giáo viên được thăm khám, 115 nguời đựoc phát hiện mắc bệnh với tỷ lệ là 29,9 %. Tổn thương thực thể giọng chiếm 20,3 %. Bệnh thường gặp là viêm thanh quản mạn tính (11,9 %), rối loạn giọng chức năng (9,6 %) và giảm hoạt động hai dây thanh (4,9 %). Tỷ lệ bệnh ở nhóm giáo viên có tuổi nghề từ 6 - 10 năm là 37,1 %.
 Các yếu tố nguy cơ được xác định và các nguyên nhân đă được phân tích. Tác giả đă khuyến nghị các biện pháp dự pḥng và điều trị.

 

 

T́nh h́nh nhiễm virus viêm gan B ở nhân viên Y tế tỉnh Thanh Hoá năm 2001 

 

Đinh Ngọc Quư, Hà Đ́nh Ngư, Vũ Hồng Cương, Ngô Thọ Thương

Trung tâm Y tế dự pḥng Thanh Hoá

  

Để xác định tỷ lệ nhiễm virut viêm gan B, đặc điểm dịch tễ học và các yếu tố nguy cơ ở nhân viên y tế tỉnh Thanh hoá, một nghiên cứu ngang đă được tiến hành trên 316 nhân viên y tế tại 9 cơ sở y tế.
Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm virut viêm gan B là 7,91 %, trong đó tỷ lệ nhiễm virut ở tuyến tỉnh là 9,8 %  và tuyến huyện là 7,01 %. Tỷ lệ nhân viên mang virut viêm gan B có liên quan đến công việc và trang thiết bị bảo hộ. Tuy nhiên, không có sự khác biệt về tỷ lệ viêm gan B theo giới, tuổi đời, tuổi nghề và theo vùng địa lư.
Kiến nghị: Tổ chức khám sức khoẻ định kỳ, lập hồ sơ bệnh án và theo dơi những nhân viên y tế có nguy cơ; đồng thời thực hiện tốt những qui định về công tác an toàn trong chuyên môn

 

  

Chấn thương nghề nghiệp ở Nicaragua 

 

Rebecca Stuart Noe (1), Mary Salazar (1), Charles Mock  (2), Julio Rocha  (3),

Cristanto Aleman  (4), M.E. Gonzalez R  (4), Carmen Clavel-Arcus  (5), Mark Anderson  (5)

 (1) Trường Đại học Washington;  (2) Trường Y tế Công cộng và Y học Cộng đồng;

 (3) Bộ Y tế Nicaragua;

 (4) Bệnh viện Escuela Antonio Lenin Forseca, Managua, Nicaragua,

  (5) Trung tâm Pḥng chống bệnh  (CDC)

 

    Hàng năm trên thế giới có khoảng 250 triệu người bị chấn thương nghề nghiệp và 300,000 người tử vong do các chấn thương đó. Thiệt hại lớn nhất do các chấn thương nghề nghiệp là ở các nước đang phát triển do thiếu các tiêu chuẩn và các qui định về an toàn. Các số liệu thống kê về chấn thương nghề nghiệp thường được thu thập từ các văn pḥng bảo hiểm xă hội và bảo hiểm lao động. Sử dụng các nguồn số liệu này ở các nước đang phát triển dẫn tới việc đánh giá quá thấp gánh nặng chấn thương nghề nghiệp với hai lư do: Khu vực lớn lao động không chính thức không có bảo hiểm, và ít hơn 10 % khu vực lao động chính thức có bảo hiểm. Nghiên cứu này mô tả các chấn thương liên quan đến nghề nghiệp sử dụng số liệu từ PAHO/CDC/Bộ Y tế Nicaragoa, Khoa cấp cứu trong Hệ thống giám sát chấn thương ở Managoa, Nicaragoa. Trong 11 tháng, từ 1/8/ 2001 đến 31/7/ 2002, tất cả các trường hợp chấn thương xảy ra khi đang làm việc được phân tích. Có 3.801 chấn thương liên quan đến nghề nghiệp được xác định, bao gồm 18,5% trong tổng số 20.425 chấn thương được hệ thống giám sát thu thập trong thời gian đó. Hai mươi bảy trựng hợp tử vong liên quan đến nghề nghiệp được ghi lại. Chấn thương xảy ra ở ngoài nơi làm việc chiếm hơn 60 % chấn thương liên quan đến nghề nghiệp. Gần một nửa các chấn thương này xảy ra ở nhà, trong khi đó 19 % xảy ra trên đường. Nguyên nhân chủ yếu của các chấn thương liên quan đến nghề nghiệp là do ngă  (30 %), do các vật có lưỡi  (28 %) và các vết đâm/cắt  (23 %). Ngă là một nguyên nhân gây tử vong chủ yếu trong nghiên cứu này, gây ra 37 % tử vong liên quan đến nghề nghiệp và hơn một nửa găy xương. Khoa cấp cứu có thể là nguồn số liệu lựa chọn quan trọng về các chấn thương nghề nghiệp ở các nước đang phát triển bởi v́ Khoa thu thập được các chấn thương của lực lượng lao động ở cả khu vực chính thức và không chính thức.

 

Nghiên cứu môi trường lao động, tác hại nghề nghiệp và các biện pháp làm giảm tai nạn nghề nghiệp

cho công nhân thi công hầm đường bộ qua đèo Hải Vân 

 

Nguyễn Đức Sơn, Phạm Hải Yến, Đào Thanh B́nh

Trung tâm Y tế – Bộ giao thông vận tải

  

Để đánh giá thực trạng môi trường lao động, nghiên cứu tác hại nghề nghiệp đối với người lao động từ đó đề xuất các giải pháp làm giảm tai hại nghề nghiệp, một nghiên cứu cắt ngang được tiến hành trên tất cả công nhân thi công hầm đường bộ qua đèo Hải vân.
Kết quả cho thấy môi trường lao động hầm đèo Hải vân bị ô nhiễm nặng; tỷ lệ công nhân bị bệnh bụi phổi-silic là 2.04 %, bệnh điếc nghề nghiệp là 16 %.
Các tác giả đề xuất các giải pháp làm giảm ô nhiễm môi trường như tăng cường hiệu quả hệ thống thông gió; nâng cao chế độ chính sách đối với người lao động hầm đèo Hải vân.

         

 

Đặc điểm môi trường lao động và ảnh hưởng đến sức khoẻ, cơ cấu bệnh tật của thuyền viên Việt Nam 

 

Nguyễn Trường Sơn, Trần Quỳnh Chi

Viện Y học biển Việt nam

  

Đề tài được tiến hành nhằm đánh giá đặc điểm môi trường lao động trên biển, sức khoẻ và cơ cấu bệnh tật của 450 thuyền viên.
Kết quả cho thấy rằng điều kiện vệ sinh lao động trên tàu biển Việt Nam chưa đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép, đặc biệt là về tiếng ồn. Tỷ lệ bệnh huyết áp cao và rối loạn điện tim tăng cao. Căng thẳng thần kinh - tâm lư, uống bia rượu, tiếng ồn và rung là những yếu tố nguy cơ đối với bệnh cao huyết áp và các rối loạn trên điện tim. 45,1 %  số thuyền viện mắc các bệnh như răng miệng, tiêu hoá, nhiễm trùng, kư sinh trùng, hô hấp, tuần hoàn, thần kinh, tâm thần.

 

  

Bước đầu đánh giá t́nh h́nh bệnh viêm da tiếp xúc với xăng, dầu hoả và dầu nhờn 

 

Nguyễn Văn Sơn

Viện YHLĐ & VSMT

 

             Đề tài được tiến hành theo phương pháp nghiên cúu cắt ngang trên công nhân tiếp xúc trực tiếp tại công ty gang thép Thái Nguyên và công ty xăng dầu khu vực I để đánh giá điều kiện làm việc, môi trường lao động và bệnh viêm da tiếp xúc.

Kết quả cho thấy điều kiện lao động không đảm bảo; công nhân thường xuyên phải tiếp xúc với xăng, dầu và nồng độ Hydrocabone cao hơn tiêu chuẩn cho phép. Tỷ lệ bệnh viêm da tiếp xúc ở công nhân tiếp xúc trực tiếp là 24 %, cao gấp 5,6 lần so với nhóm không tiếp xúc. Bệnh xuất hiện ở vùng da tiếp xúc, thường là từ cẳng tay trở xuống (78,9 %).
Tác giả đưa ra một số khuyến nghị về việc dự pḥng bệnh như các biện pháp kỹ thuật, trang thiết bị bảo hộ, quản lư và cải thiện môi trường và điều kiện làm việc. Nghiên cứu để bổ xung bệnh viêm da tiếp xúc nghề nghiệp vào danh mục bệnh nghề nghiệp ở Việt Nam.

 

  

Điều tra tỷ lệ mắc mới bệnh bụi phổi silíc trong công nhân đúc 

 

Nguyễn Phúc Thái

Cục Quân Y

 

             Nghiên cứu đă được tiến hành nhằm điều tra tỷ lệ mắc bệnh bụi phổi-silic mới trong công nhân đúc. Khảo sát sự ô nhiễm môi trường lao động và chụp phim phổi cho 168 công nhân đúc của nhà máy Z127 ở hai thời điểm: Năm 1999 và năm 2002.

Kết quả nghiên cứu cho thấy năm 1999 đă phát hiện 11 trường hợp mắc bệnh bụi phổi-silic loại 1/0p. Trong năm 2002, ngoài 11 trường hợp kể trên, c̣n có 11 trường hợp khác cũng mắc bệnh bụi phổi-silic, đưa tổng số công nhân mắc bệnh lên 22 trường hợp. 11 trường hợp phát hiện trong năm 1999 vẫn ở loại 1/0p, không trường hợp nào tiến triển nặng hơn. Như vậy, sau 3 năm lao động sản xuất, trong số 168 công nhân đúc, đă có thêm 11 trường hợp mới mắc bệnh bụi phổi-silic và tỷ lệ mắc mới là 6,5 %.

 

 

 

Nghiên cứu yếu tố nguy cơ đối với bệnh nấm da ở công nhân khai thác than tại Thái Nguyên 

 

Nguyễn Quư Thái, Nguyễn Hữu Chỉnh, Nông Thanh Sơn

Đại học Y Thái Nguyên

 

           Tỷ lệ mắc bệnh nấm da ở công nhân trong các mỏ than nói chung là rất cao, nhưng các nghiên cứu dịch tễ học phân tích được tiến hành nhằm phát hiện các yếu tố nguy cơ đối với bệnh này hầu như c̣n thấy rất ít.
Mục tiêu của đề tài này nhằm xác định yếu tố nguy cơ chính  (quyết định) đối với bệnh nấm da ở công nhân khai thác than. Nghiên cứu được tiến hành với thiết kế ca bệnh - đối chứng, cỡ mẫu đối với số bệnh là 130 và đối chứng là 260 công nhân. Thời gian và địa điểm nghiên cứu: Tháng 10-11-12/2001 và ở các mỏ than tại tỉnh Thái Nguyên. Mô h́nh hồi quy logistic được sử dụng để để phân tích nhiều yếu tố nguy cơ và loại bỏ các yếu tố nhiễu đối với bệnh nấm da  (tuổi đời, tuổi nghề, nhiệt độ và độ ẩm môi trường, nồng độ nấm không khí, điều kiện lao động, kiến thức hiểu biết, thực hành và thái độ về vệ sinh cá nhân). Kết quả xác định được các yếu tố nguy cơ đối với bệnh nấm da là: Công nhân thực hành vệ sinh cá nhân chưa tốt có nguy cơ mắc bệnh nấm da tăng gấp 7,17 lần  (95 % CI: 4,06 - 12,7). Việc cung cấp các trang bị bảo hộ và phương tiện phúc lợi lao động ở các đơn vị chưa đảm bảo và hợp lư, công nhân có nguy cơ mắc bệnh nấm da tăng gấp 2,57 lần  (95 % CI: 1,59 - 4,15). Kiến thức hiểu biết về vệ sinh cá nhân  (yếu tố nhiễu) ảnh hưởng đáng kể lên hai yếu tố tác động đối với bệnh nấm da trên  (với OR = 1,85 và 95 % CI: 1,03 - 3,34). Tác giả kết luận: Thực hành vệ sinh cá nhân chưa tốt, điều kiện lao động chưa đạt yêu cầu là yếu tố nguy cơ chính tác động lên t́nh trạng bệnh nấm da ở công nhân khai thác than tại Thái Nguyên.

 

 

Tai nạn lao động trong 5 năm tại Hà nội (1998 - 2002)  

 

 Hoàng Xuân Thảo và cộng sự

Hội đồng giám định Y khoa Hà Nội

 

Đề tài được thực hiện nhằm mô tả thực trạng tai nạn lao động và t́m hiểu một số nguyên nhân gây nên tai nạn lao động qua hồi cứu hố sơ tai nạn lao động của Hà Nội trong 5 năm từ 1998 đến 2002.
Kết quả cho thấy tỷ lệ tai nạn lao động tăng từ 16,27 %  trong năm 1998 đến 25,58 %  trong năm 2002. Tỷ lệ tai nạn lao động cao hơn ở nam giới và trong các ngành như giao thông vận tải (38,75 %) và xây dựng (21,7 %). Nguyên nhân chủ yếu là do không chấp hành các biện pháp an toàn lao động. Chấn thương sọ năo (9,1 %), chấn thương ở chi trên (25,87 %), chi dưới (10,55 %) và chấn thương nội tạng là những nguyên nhân để lại di chứng năng nề cho nguời lao động. Có 14,7 %  người chết và 6,6 %  mất khả năng lao động từ 61 %  đến 100 %  hoặc vĩnh viễn tàn phế.
        Tác giả cũng đề xuất một số giải pháp nhằm giảm tai nạn lao động.

 

Kết quả điều tra hàm lượng catecholamin và serotonin trong nước tiểu của các đối tượng ở khu vực Biên Hoà 

 

Nguyễn Ngọc Th́n, Ngô Tiến Dũng

Học viện quân y 

 

Các tác giả đă tiến hành xác định hàm lượng Catecholamin và Serotonin trong nước tiểu của 271 người sống tại Biên Hoà không phân biệt giới và tuổi, trên máy huỳnh quang và máy quang phổ, để đánh giá các biến đổi chức năng của cơ thể do ảnh hưởng của chất độc hoá học. Kết quả thu được cho thấy:
Hàm lượng Catecholamin trung b́nh tại khu vực Biên Hoà 1 là 38,1 ±  11,4 mg/l (n = 64) và tại khu vực Biên Hoà 2 là 32,4  ±  8,6 mg/l (n = 55). Những người có lượng Catecholamin trên mức b́nh thường chiếm 7,8 %  tập trung ở khu vực Biên Hoà 1. Không có trường hợp nào ở khu vực Biên Hoà 2. Hàm lượng Serotonin trong nước tiểu của các đối tượng nghiên cứu (n = 152) dao động trong khoảng 2 - 15 mg/l. Có 6,58 %  trường hợp vượt quá mức b́nh thường (>  10 mg/l) và 39,8 – 45,1 %  thấp hơn mức trung b́nh.

 

 

Điều kiện lao động và t́nh h́nh sức khoẻ của người lao động làng nghề đúc đồng Đại Bái, Bắc Ninh 

 

Nguyễn Thị Thu, Nguyễn Thị Bích Liên, Nguyễn Thu Anh

Bộ môn Sức khoẻ nghề nghiệp

Khoa Y tế cộng đồng - Đại học Y Hà Nội

 

 

Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành nhằm đo đạc các yếu tố môi trường và phỏng vấn 544 người lao động có tuổi nghề ³ 5 năm về điều kiện lao động và t́nh h́nh sức khoẻ của họ.
Kết quả cho thấy tiếng ồn đo được vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) ở khu dân cư 35 - 89 %, bụi gấp 1,6 - 4 lần và hơi khí độc (CO2, CO, SO2, NO2) vượt 2 - 86 lần. Số người lao động thấy công việc nặng nhọc, đơn điệu, nguy cơ tai nạn lao động cao, tư thế g̣ bó chiếm tỷ lệ từ 38 - 63 %. 43,8 %  cơ sở chật chội. Hầu hết các cơ sở không có quạt thông gió, chụp hơi khí độc. 74,7 %  máy móc không được che chắn. 29,8 %  người lao động không được sử dụng trang bị bảo hộ lao động. 96,5 %  chưa bao giờ được hướng dẫn về các biện pháp an toàn vệ sinh lao động. Trên 64 %  người lao động đau mỏi sau lao động. Tỷ lệ mắc bệnh/ triệu chứng cấp và mạn tính (nhất là bệnh đường hô hấp) cao ở nhóm đúc và g̣. 7,4 %  lao động g̣ có biểu hiện nghễnh ngăng. 50,4 %  lao động đúc, 24,8 % lao động g̣, 22 % lao động cán và 43,3 % lao động đập đă từng bị tai nạn lao động trong năm qua (bỏng, dập, xây xát chân tay, chấn thương mắt).
Môi trường lao động làng nghề đúc đồng bị ô nhiễm bởi tiếng ồn, bụi và hơi khí độc. Bệnh mắc chủ yếu ở người lao động là bệnh hô hấp, tiêu hoá, xương khớp, nghễng ngăng. Tỷ lệ tai nạn lao động rất cao, nhất là bỏng. Cần quy hoạch khu sản xuất tách biệt. Tăng cường tuyên truyền các biện pháp an toàn - vệ sinh lao động cho người lao động.

 

Xét nghiệm sàng lọc CHOLINESTERASE những người nông dân trồng lúa tiếp xúc

với lân hữu cơ ở miền Nam Việt Nam 

 

Âu Bích Thủy2, Voranuch Wangsuphachart1,*, Jaranit Kaekungwal J1

1Bộ môn Y Xă hội và Vệ sinh môi trường,

Khoa Y học Nhiệt đới, Trường Đại học Mahidol

2  Khoa  Y học Cộng đồng

Trường Đại học Y, Trường Đại học Tổng hợp Cần Thơ

 

 

Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành ở những người nông dân trồng lúa tại xă Mỹ Hương, Miền Nam, Việt Nam để đánh giá ảnh hưởng của tiếp xúc nghề nghiệp với lân hữu cơ  (OPs) dự vào hoạt tính của men Cholinesterase  (ChE). Sử dụng bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp để có được mô h́nh tiếp xúc của 325 đối tượng dựa vào khuyến nghị của Trung tâm pḥng chống bệnh của Mỹ  (US-CDC).
 Máu chích từ đầu ngón tay của mỗi đối tượng được tập hợp sau phỏng vấn để đo nồng độ men Cholinesterase bằng Giấy Phản ứng. Phần mềm STATA được sử dụng để phân tích mối liên quan giữa tiếp xúc nghề nghiệp và hoạt tính của men Cholinesterase với µ = 0,05.
Kết quả cho thấy 44 % nông dân có nồng độ men Cholinesterase b́nh thường, 42.2 % là an toàn và 13.8 % có nguy cơ. Có rất nhiều yếu tố góp phần vào nồng độ men Cholinesterase:   (1) Tuổi của những người nông dân: Quan sát thấy những người nông dân tuổi càng cao th́ càng có nguy cơ ít  (2) Tần số sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật lân hữu cơ trên lúa: Càng thường xuyên sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật lân hữu cơ th́ nguy cơ càng cao;  (3) Rửa b́nh phun sau khi phun: Người rửa b́nh phun có nguy cơ cao hơn người không rửa b́nh.
Những người nông dân địa phương hầu như không biêt đến trang bị bảo hộ cá nhân. Quần áo làm việc phổ biến nhất là quần áo b́nh thường với áo dài tay, quần dài và mũ vải. Các triệu chứng lâm sàng không có liên quan với nồng độ men ChE trong nghiên cứu của chúng tôi. Các kết quả này gợi ư giáo dục sức khỏe nhằm làm thay đổi thói quen của người nông dân là rất quan trọng. Ngoài ra, cần có trang bị bảo hộ cá nhân phù hợp với khí hậu nóng sao cho những người nông dân có thể sử dụng chúng mà không thấy khó chịu. Đặc biệt, nghiên cứu c̣n t́m thấy nạn dịch ốc sên đă làm người nông dân sử dụng quá mức hóa chất bảo vệ thực vật. Cần thiết đánh giá đứng mức ảnh hưởng của vấn đề để giải quyết vấn đề.

 

 

Nghiên cứu bổ sung bệnh nhiễm độc Monoxit cacbon vào danh mục các bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm ở Việt nam           

 

Nguyễn thị Xuân Thủy và cs

Viện YHLĐ và VSMT

 

Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp thuần tập và hồi cứu tại 5 cơ sở sản xuất, nhằm bổ sung bệnh nhiễm độc Monoxit carbon vào danh mục bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm ở Việt Nam. Kết quả phân tích 50 mẫu CO môi trường, khảo sát 319 đối tượng bằng bảng câu hỏi và khám lâm sàng (nhóm tiếp xúc nghề nghiệp với CO: 254 người và nhóm chứng: 65 người), ghi điện tâm đồ, định lượng Hb và HbCO trong máu. Kết quả thu được cho thấy:
8 mẫu CO môi trường vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 1,2 - 5,3 lần. 3 triệu chứng: Suy nhược, đau đầu, choáng váng của công nhân ở nhóm tiếp xúc với CO tăng lên rơ rệt so với trước khi vào nghề và so với nhóm chứng (p  <  0,001). Số công nhân bị ảnh hưởng sức khoẻ rơ rệt do CO so với trước khi vào nghề là 91 người (35,8 %), cao hơn so với nhóm chứng (p  <  0,001), trong đó, 23 công nhân (chiếm 9,1 %) có biểu hiện lâm sàng của nhiễm độc CO mạn tính. 48,2 %  người có biến đổi điện tâm đồ nghi có ảnh hưởng đến tim, cao hơn nhóm chứng (29,0 %) với p  <  0,05; 4,1 %  có biến đổi điện tâm đồ về mạch vành. 39,2 %  có hàm lượng HbCO trong máu từ 3 - 6,7 %, 0,6 %  giảm Hb  < 110 g/l. 18 công nhân (9,1 %) có tiền sử nhiễm độc CO cấp tính nghề nghiệp (1 trường hợp chết).
 Nồng độ CO trong không khí môi trường lao động vượt quá tiêu chuẩn cho phép (TCCP) đă gây nên nhiễm độc CO mạn và cấp tính cho người tiếp xúc: ảnh hưởng tới sức khoẻ, tác động tới hệ thần kinh, tim mạch, hô hấp, tiêu hoá, gây thiếu máu....Đề nghị bổ sung bệnh nhiễm độc Monoxit carbon vào danh mục các bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm ở Việt Nam.

 

 

Môi trường với sức khỏe người lao động nông nghiệp Tỉnh Hải Dương  

 

Trần Sĩ Tiêm

Trung tâm Y tế dự pḥng Tỉnh Hải Dương 

 

Hải Dương là tỉnh đồng bằng, dân số 1.694.315 người. Mật độ trung b́nh 987 người/km2, có 1.413.739 người sống ở nông thôn, chiếm 83,3 %  dân số trong tỉnh. Trong đó có 706.492 người trong tuổi lao động nông nghiệp tương đương 350.000 doanh nghiệp lớn (mỗi doanh nghiệp có khoảng 2.000 lao động).
Trong đó toàn tỉnh chỉ có 6 doanh nghiệp từ 2.000 lao động trở lên kể cả lao động hợp đồng ngắn hạn kư kết làm theo thời vụ như giầy, may mặc, khai thác chế biến khoáng sản....Số người lao động nông nghiệp đều phải chịu các yếu tố nguy hiểm có hại đến sức khỏe như: Yếu tố vật lư, hoá học, sinh học và các yếu tố bất lợi khác.
Nông nghiệp đóng vai tṛ quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, cung cấp lương thực, thực phẩm cho công nghiệp, người chưa đến tuổi hoặc già yếu hết tuổi lao động. Có nhiệm vụ cung cấp nguyên liệu và đội ngũ lao động cho công nghiệp, lực lượng cho quốc pḥng để bảo vệ an ninh Tổ quốc.
V́ vậy cần có những chính sách an toàn – vệ sinh lao động để bảo vệ sức khỏe ngườu lao động nông nghiệp trong các doanh nghiệp hoặc hơn thế nữa, nông nghiệp mới được phát triển làm nền tảng cho công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước.

 

 

Đánh giá ảnh hưởng chất lượng môi trường đến  sức khỏe người lao động ngành giấy  

 

Nguyễn Thị Toán

Viện YHLĐ &VSMT 

 

Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên 465 công nhân sản xuất giấy tại nhà máy giấy Băi Bằng và nhà máy giấy Việt Tŕ.
Kết quả cho thấy nhiệt độ ở khu nấu bột, nồi hơi, buồng sấy cao hơn tiêu chuẩn vệ sinh cho phép (TCVSCP) từ 1 - 50 C; nồng độ khí Cl2, Mercaptan ở khu vực tẩy bột giấy, bể phá bọt cao hơn TCVSCP; và tiếng ồn ở khu vực nghiền và xeo giấy cũng vượt TCVSCP từ 5 –14 dBA. Bệnh tai mũi họng chiếm tỷ lệ 60,2 – 71,9 %; bệnh mắt 12,4 – 34,2 %; bệnh da 8,8 – 28,9 %; suy nhược thần kinh 16,5 – 33,8 %. Điếc nghề nghiệp chiếm 7,3 %  (giấy Băi Bằng). Các triệu chứng hay gặp ở công nhân tiếp xúc với hoá chất (Cl2, H2S) qua phiếu phỏng vấn là nhức đầu (73 –75 %), chảy nước mắt (34  – 39 %), ngứa họng (78 – 88 %), hắt hơi chảy nước mũi (45 – 60 %). ở nhóm tiếp xúc với tiếng ồn, các triệu chứng hay gặp là: ù tai (60 – 80 %), đau đầu (41 – 72 %), rối loạn thần kinh thực vật (26 – 45 %).
Tác giả đă đề xuất một số biện pháp bảo vệ sức khỏe cho công nhân như phương pháp đơn giản phát hiện sớm hơi khí độc, phác đồ hướng dẫn cấp cứu và điều trị ngộ độc.

 

 

Điều tra cơ bản về thực trạng sức khỏe công nhân cơ khí - luyện kim 

 

Nguyễn Thị Toán

Viện YHLĐ & VSMT

  

Đề tài được tiến hành trên 927 công nhân cơ khí luyện kim (đúc, luyện cán thép, g̣ rèn).
Kết quả cho thấy nhiệt độ khu vực luyện, cán thép cao hơn nhiệt độ ngoài trời từ 6 đến 130 C; nồng độ bụi có nơi cao hơn tiêu chuẩn vệ sinh cho phép (TCVSCP) từ 1,5 – 4 lần, hàm lượng SiO2 từ 6 - 32 %; tiếng ồn nhiều nơi vượt TCVSCP từ 2 – 14 dBA. Bệnh về tai mũi họng chiếm 66,7 %, cao nhất là ở công nhân đúc (72 %); bệnh về mắt là 18,9 %, cao nhất là ở công nhân luyện thép (30,8 %); bệnh về tiêu hoá chiếm 19,9 %  (chủ yếu là hội chứng dạ dày - tá tràng), cao nhất là ở công nhân g̣ rèn (25,4 %); bệnh về đường hô hấp chiếm 14,9 %, cao nhất là công nhân đúc (20,8 %). Bệnh bụi phổi-silic là 14 %  (từ 1/0p); bệnh điếc nghề nghiệp là 12,28 %  (g̣ rèn 18,63 %, cán thép 10,9 %, luyện thép 4,82 %). Các triệu chứng thu thập qua bảng câu hỏi được phân bổ như sau ho khạc đờm 82,7 %; ho kéo dài  > 3 tháng là 15,5 %; ù tai, nghe kém là 65,0 %  và 61,0 %; mệt mỏi, đau đầu là 62,9 %  và 57,1 %.
Tác giả đă đề xuất một số biện pháp bảo vệ sức khỏe công nhân, dự thảo tiêu chuẩn khám tuyển và khám sức khỏe định kỳ cho công nhân cơ khí luyện kim.

 

  

T́nh h́nh sức nghe của công nhân tại một số cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng 

 

 Nguyễn Thị Toán

Viện YHLĐ và VSMT

 

             Đề tài nghiên cứu được tiến hành trên 1498 công nhân sản xuất vật liệu xây dựng (trong đó 547 công nhân sản xuất xi măng, 448 công nhân khai thác đá, 503 công nhân sản xuất gạch chịu lửa).

Kết quả cho thấy công nhân phải tiếp xúc với tiếng ồn cao từ 86 – 103 dBA ở các công đoạn như khoan đá, nghiền đá, xi măng, dập gạch. Tỷ lệ điếc nghề nghiệp là 10,07 %  trong đó ngành khai thác đá là 16,46 %; ngành sản xuất gạch chịu lửa 7,29 %; ngành sản xuất xi măng 6,45 %. Các triệu chứng thu được qua phiếu phỏng vấn như sau: 97,6 %  thợ khoan đá bị ù tai, thợ nghiền đá là 85,7 %, thợ dập gạch là 88,9 %, và thợ đóng bao là 50,8 %. 85,4 %  thợ khoan đá nghe kém; tỷ lệ này ở thợ nghiền đá, thợ dập gạch, và thợ đóng bao là 81 %, 77,8 %  và 50 %. 78 %  thợ khoan đá bị đau đầu, tỷ lệ này ở thợ nghiền đá là 85,7 %, thợ dập gạch 87,1 %, và thợ đóng bao 50,0 %. 9,8 %  thợ khoan đá, 14,3 %  thợ nghiền đá, 15,3 %  thợ dập gạch và 2,5 %  thợ đóng bao thường xuyên sử dụng nút tai.
Tác giả đă đề xuất một số biện pháp bảo vệ sức khỏe cho công nhân sản xuất vật liệu xây dựng, chủ yếu đề cập đến vấn đề sử dụng nút tai chống ồn.

 

  

Nghiên cứu sự biến đổi một số chỉ số khí máu động mạch ở động vật phù phổi cấp do nhiễm độc cấp Oxyd nitơ thực nghiệm

  

Hoàng Anh Tuấn, Nguyễn Bằng Quyền, Nguyễn Ngọc Th́n

 

            

Sự biến đổi hoạt độ enzym Superoxid dismutase (SOD) hồng cầu trên động vật nhiễm độc cấp Oxyd nitơ thực nghiệm

và tác dụng của mật gấu nuôi 

 

Hoàng Anh Tuấn, Nguyễn Bằng Quyền, Nguyễn Ngọc Th́n

Học viện quân y

 

  

 

Thực trạng công tác chăm sóc sức khoẻ công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

tại Hải Pḥng năm 2003

 

 

Phan Tuấn, Nguyễn Thanh Thuỷ

Trung tâm y tế dự pḥng Hải Pḥng

 

             Để góp phần vào việc định hướng chiến lược cho công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ cho người lao động, một điều tra về điều kiện lao động và sức khoẻ của công nhân được thực hiện tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Hải Pḥng.

  Kết quả cho thấy hầu hết các doanh nghiệp đều sử dụng dây chuyền sản xuất tự động hoặc bán tự động. Cường độ lao động cao, các ca sản xuất bố trí chưa hợp lư. Tuổi đời của công nhân rất trẻ, tỷ lệ nữ cao đặc biệt là ở các doanh nghiệp da giầy, may mặc. Điều kiện lao động trong các doanh nghiệp là khá tốt như nhà xưởng thiết kế hợp lư, thoáng mát, hệ thống thông gió chung và cục bộ tốt. Tuy nhiên, các trang thiết bị bảo hộ lao động chưa được cung cấp đầy đủ. Các doanh nghiệp có tổ chức khám định kỳ cho công nhân nhưng không khám phát hiện bệnh nghề nghiệp.
Tác giả kiến nghị: Cần có sự phối hợp giữa các ban ngành như y tế, lao động, công đoàn trong công tác y học lao động. Đẩy mạnh các hoạt động nâng cao sức khoẻ của các doanh nghiệp. Công tác huấn luyện về an toàn lao động và khám sức khoẻ định kỳ cần phải đựoc tổ chức một cách phù hợp.

 

 

Điều kiện làm việc và sức khoẻ người lao động trong các doanh nghiệp lớn

và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 

 

Nguyễn Thị Hồng Tú và cộng sự

Cục Y tế dự pḥng và pḥng chống HIV/AIDS

  

Nghiên cứu được tiến hành tại 13 doanh nghiệp lớn (trên 200 lao động) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm 1593 công nhân thuộc các ngành đường sắt, sản xuất xi măng, dịch vụ khách sạn, cán thép, sản xuất giày da, túi xách tại Hải Pḥng, Huế. Mục đích của nghiên cứu là điều tra t́nh h́nh chuyển giao công nghệ, phát hiện các yếu tố phát sinh trong quá tŕnh chuyển giao công nghệ và ảnh hưởng của chúng đến sức khoẻ người lao động.
Kết quả cho thấy công nghệ sản xuất tại 13 doanh nghiệp là những công nghệ nhập từ Đài Loan, Nhật Bản, Trung Quốc và Hồng Kông dưới h́nh thức chuyển giao toàn bộ hoặc nhập thiết bị mới. 76,9%  số doanh nghiệp đă tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho người lao động. Công nhân có sức khoẻ loại II và III là 50,4 %  và 34,2 %; số công nhân có sức khoẻ loại IV và V là 3,4 %. Tai nạn lao động trong 6 tháng đầu năm 2002 xảy ra ở 38,5 %  doanh nghiệp. Tai nạn chủ yếu là tai nạn ở chân, tay và mắt. Tỷ lệ ốm không nghỉ việc là 14,8 - 93,1 %. Các bệnh thường gặp trong công nhân là viêm phế quản (37,2 %), các bệnh về phổi (17,6 %), bệnh cơ xương khớp (17,6 %) và bệnh tim mạch (10,6 %). Đặc biệt có 4 công nhân bị bệnh nghề nghiệp (0,25 %) và 2 công nhân bị tai nạn lao động (0,13 %).
Các tác giả đă đề xuất một số biện pháp để thực hiên tốt công tác chăm sóc sức khoẻ cho người lao động và pḥng tránh các nguy cơ nghề nghiệp trong các doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

 

  

Điều tra t́nh h́nh hút thuốc lá ở công nhân một số doanh nghiệp tại quận Ngô Quyền, Hải Pḥng 

 

Nguyễn Thị Hồng Tú, Trần Thị Ngọc Lan

Vụ Y tế dự pḥng, Bộ Y tế

Nguyễn Thanh Thuỷ

Trung tâm Y tế dự pḥng Hải Pḥng

 

Hưởng ứng chương tŕnh quốc gia “Pḥng chống tác hại thuốc lá”, khoa Y tế lao động, TTYTDP Hải Pḥng đă triển khai điều tra thực trạng t́nh h́nh hút thuốc lá (HTL) trong công nhân tại nơi làm việc với mục đích t́m ra các bệnh có liên quan tới HTL và đánh giá nhu cầu chống HTL tại nơi làm việc của 11 xí nghiệp vừa và nhỏ, 3 xí nghiệp lớn thuộc quận Ngô Quyền, Hải Pḥng. Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp các nam công nhân theo bộ câu hỏi của WHO và xử lư số liệu theo chương tŕnh EpiInfo 6.0, kết quả thu được cho thấy:
Tỷ lệ người HTL trong số nam công nhân là 33,5 %, chủ yếu ở độ tuổi 18 - 25 tuổi (chiếm 77,9 %  số người HTL). Các bệnh hay gặp ở những người hút thuốc là viêm đường hô hấp trên, đặc biệt là viêm họng (73,6 %), tiếp đó là viêm mũi (49,8 %). Tỷ lệ người yêu cầu hạn chế việc HTL tại nơi làm việc chiếm 80,3 %.
Điều này cho thấy các nội quy, quy định bắt buộc đối với việc hạn chế HTL ở nơi làm việc là cần thiết.

 

Tai nạn lao động và các giải pháp ngăn chặn tai nạn lao động

cho ngư dân lặn bắt thuỷ sản ở một số tỉnh miền Trung

 (1997 - 2001) 

 

Phùng Thanh Tú, Viên Chinh Chiến

Viện Pasteur Nha trang

Nguyễn Thị Hồng Tú

Cục Y tế dự pḥng và pḥng chống AIDS/HIV

  

Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá t́nh h́nh tai nạn lao động (TNLĐ) trong ngư dân đánh bắt thuỷ sản tại các tỉnh miền Trung để từ đó đưa ra các giải pháp dự pḥng tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp bảo vệ sức khoẻ ngư dân. Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn và khám lâm sàng trên 668 ngư dân lặn tại 2 tỉnh Khánh Hoà và B́nh Thuận.
Kết quả cho thấy có 223 tai nạn lao động  xảy ra từ 1997 đến 2000 với 43 trường hợp tử vong. Hỗu hết các ngư dân không được huấn luyện kỹ thuật lặn và an toàn lao động (ATLĐ) đồng thời họ thiếu các trang thiết bị lặn ở độ sâu  > 15 m. Sự thay đổi đột ngột áp suất là nguyên nhân gây tổn thương khớp (khuỷ tay, háng, vai, đầu gối); các tổn thương về thần kinh và da chiếm tỷ lệ cao (21,3 %  và 75,2 %). Các TNLĐ không được điều trị dẫn đến các di chứng và tàn phế như liệt tay, chân, bán thân.
Các tác giả kiến nghị rằng cần có một chương tŕnh trợ giúp của Nhà nước và các tổ chức để giảm thiểu các tai nạn lao động.

 

Môi trường lao động và Bệnh ngoài da của công nhân ngành cao su 

 

 Khúc – Xuyền

Viện Y Học Lao Động & Vệ Sinh Môi Trường

 

Đề tài được tiến hành nhằm khảo sát, đánh giá t́nh h́nh môi trường lao động ngành cao su và ảnh hưởng của điều kiện môi trường tới sức khoẻ, đặc biệt khả năng gây bệnh ngoài da đối với người lao động ở ngành này.
Tiến hành khảo sát các yếu tố môi trường, khám phát hiện bệnh tật và đặc biệt các bệnh ngoài da cho 1541 công nhân và 531 người không trực tiếp tiếp xúc với môi trường cạo mủ và chế biến tại 4 công ty gồm 6 nông trường trồng cây cao su và 4 nhà máy chế biến mủ cao su thuộc Tổng công ty cao su Việt nam.
 Kết quả nghiên cứu cho thấy môi trường lao động ngành cao su không thuận lợi, độ ẩm thường cao hơn tiêu chuẩn vệ sinh cho phép  (TCVSCP) từ  9 - 13  % và nấm  mốc phát triển cao hơn TCVSCP 6-12 lần, đó là các tác nhân ảnh hưởng đến sức khoẻ người lao động. Tỷ lệ mắc bệnh da cao tới 51, 4 %, trong đó bệnh da ở nhóm công nhân cạo mủ là 47,2 % và ở nhóm công nhân chế biến mủ là 56,2 %.  Đặc biệt bệnh nấm da là bệnh thường gặp trong ngành cao su là 34,6 % . Bệnh nấm da của công nhân trực tiếp tiếp xúc với môi trường nóng ẩm của công nhân cạo mủ và môi trường nước, hoá chất của công nhan chế biến mủ cao gấp 9,15 lần nhóm không tiếp xúc và  95 % CI = 6,12 - 13,78, OR = 9,15, p < 0,001. Sự khác biệt trên là có ư nghĩa thống kê. Kết quả 205 mẫu xét nghiệm nấm, số mẫu dương tính chiếm 42 %, trong đó nấm da, nấm kẽ là 32,2 % và nấm móng là 9,8 %.
Với các kết quả thu được cho thấy bệnh ngoài da trong ngành cao su chiếm tỷ lệ cao, nhất là các bệnh nấm da, nám kẽ, nấm móng có tính chất liên quan nghề nghiệp rơ rệt. Các tác giả đề nghị cần có những biện pháp thích hợp bảo vệ sức khoẻ công nhân .