|
CÁC VẤN ĐỀ KHÁC |
Sàng lọc môi trường đầu tư nước ngoài
Barry Castleman,
Lựa chọn các ngành công nghiệp mới có tầm quan trọng to lớn đối với sự phát triển của quốc gia. Các nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận với chính phủ để có giấy phép xây dựng các công tŕnh mới và do đó chính phủ cần điều tra kỹ lưỡng chất lượng công nghệ mà họ định nhập khẩu. Mặc dầu, nhiều thông tin về các nguyên liệu công nghiệp có công khai, nhưng nhiều câu hỏi cũng rất quan trọng mà nhà đầu tư nước ngoài có thể và phải trả lời trước khi xây dựng hoặc trứơc khi được cấp giấy phép hoạt động. Các câu hỏi này giải quyết kinh nghiệm hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài về công nghệ như vậy hoặc tương tự ở nơi khác trên thế giới. Các câu hỏi đó cũng quan tâm đến chính sách toàn cầu của nhà đầu tư nước ngoài về sức khỏe, an toàn và môi trường (HSE). Nếu nhà đầu tư nước ngoài đưa vào hoạt động công nghệ tương tự ở các nước khác, th́ có thể yêu cầu thông tin từ cả phía nhà đầu tư nước ngoài và các nhà chức trách của các nước đó. Các tiêu chuẩn về sức khỏe và an toàn của công nhân, mức độ ô nhiễm không khí trong các nhà máy, số lượng các chất ô nhiễm thải ra môi trường ở các nhà máy đang hoạt động ở các nước khác là bao nhiêu? Có các luật pháp, các qui định và các tiêu chuẩn liên quan nào để bảo vệ sức khỏe cộng đồng đối với nhà đầu tư nước ngoài ở đất nước đó và ở các nước khác có các tiêu chuẩn cao không? Liệu các sản phẩm (như hóa chất trừ sâu) đă bị cấm hoặc tự nguyện bỏ không sử dụng ở bất kỳ quốc gia nào?Sau thảm họa hóa chất ở Bhopal, ấn Độ năm 1984, nhiều tập đoàn toàn cầu đă đưa ra các chính sách tuyên bố rằng họ không có các “tiêu chuẩn kép” quốc tế về sức khỏe, an toàn và môi trường đối với các hoạt động của họ trên toàn thế giới. Các tuyên bố chính sách toàn cầu thường chỉ ra không chấp nhận sản xuất hoặc bán ra thị trường các sản phẩm có hại ở một nước này hơn so với nước khác. Tuy nhiên, các động cơ lợi nhuận và cách suy nghĩ kinh doanh cổ điển đôi khi tồn tại trong thực tế, và các chính phủ chủ nhà có trách nhiệm cuối cùng là bảo vệ nhân dân và môi trường của họ bằng các phân tích quyết định những đơn xin xây dựng các nhà máy. Nhà đầu tư nước ngoài chắc chắn đến mức nào về chính sách toàn cầu được thực hiện trên toàn thế giới, họ có hệ thống kiểm tra nào? Liệu nhà đầu tư nước ngoài có trách nhiệm với công tác sức khoẻ, an toàn và môi trường và có ư định kiểm tra các nhà cung cấp nguyên vật liệu sẽ được sử dụng ở nhà máy mới (trong số đó có thể có vài nguyên vật liệu có hại)? Liệu nhà đầu tư nước ngoài có các yêu cầu về sức khoẻ, an toàn và môi trường đối với các nhà thầu xây dựng và duy tŕ công việc ở nhà máy?Công nghiệp hoá chất đă cố gắng giành được sự chấp thuận các giấy chứng nhận kiểm tra tự nguyện thông qua tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn và một chương tŕnh của các hội thương mại công nghiệp hoá chất được gọi là “Thận trọng có trách nhiệm”. Đó là các hoạt động đầu tiên khi tuyên truyền cho công chúng. khi liên minh Quốc tế về Hoá chất, Năng lượng, Mỏ và Tổng nghiệp đoàn công nhân cố gắng làm việc với các hội thương mại công nghiệp để xây dựng một điều lệ làm việc có ư nghĩa hơn mà nhấn mạnh sự xây dựng các thói quen tốt nhất giữa các công ty và trong mỗi công ty, họ buộc phải bỏ cuộc những nỗ lực vào năm 2001 do sự thất bại. Điều này phản ánh “sự phân cách” giữa các tuyên bố chính sách cao thượng và sự tự nguyện thực tế của một vài công ty để giữ các tiêu chuẩn mà họ yêu cầu phải đạt được một cách tự nguyện.Bài báo này bao gồm các thông tin đề xuất cụ thể và sự thoả thuận đối với các nước nhận các nhà đầu tư nước ngoài trước khi cho phép xây dựng các công tŕnh công nghiệp mới.
Một mô h́nh mới quản lư lồng ghép chương tŕnh dự pḥng, đền bù bệnh nghề nghiệpvà tai nạn lao động và phục hồi lao động ở ĐàI Loan
Chung L Du. TJ Cheng, JD Wang, TC Sue,Trung tâm quản lư BNN&TNLĐ ở bệnh viện,trường đại học quốc gia Đài LoanViện nghiên cứu YHLĐ & VSLĐ, Đài LoanYu Chang, HW Liang,
Mục tiêu là giúp cho người lao động bị bệnh nghề nghiệp (BNN) hay tai nạn lao động (TNLĐ) được dự pḥng, đền bù và phục hồi lao thông qua bệnh viện đa khoa trung tâm. Trung tâm quản lư BNN & TNLĐ ở bệnh viện, trường đại học quốc gia Đài Loan được khai trương ngày 26 tháng 4 năm 2003, được tài trợ từ quỹ dự pḥng theo điều khoản luật bảo vệ người lao động đối với các tổn thương do tác hại nghề nghiệp. Trung tâm này có 8 buổi lên lớp tại buồng bệnh trong một tuần, phục vụ cho mọi loại tổn thương và BNN, kể cả hai loại bệnh cơ xương và tim mạch nghề nghiệp. Nhiệm vụ của trung tâm là chẩn đoán BNN, điều trị TNLĐ, giám sát, đánh giá tác hại nghề nghiệp tại nơi lao động. Mô h́nh quản lư trường hợp được triển khai để phục vụ công nhân bị tổn thương phức tạp. Đây là chương tŕnh lồng ghép nhằm dự pḥng tổn thương, đền bù và giúp phục hồi lao động (PCR). Những trường hợp được nhập viện do tự đến khám hay do giám sát bao gồm hệ thống báo cáo nhập viện do BNN & TNLĐ của pḥng cấp cứu của bệnh viện, trường đại học quốc gia Đài Loan (NTUH) và từ văn pḥng bảo hiểm lao động. Trong khi khám bệnh, BNN hoặc TNLĐ được điều trị khi đúng tiêu chuẩn điều trị hoặc mất khả năng lao động (KNLĐ) vĩnh viến. Nhóm điều trị có sự tham gia của các nhân viên lư liệu pháp, BNN, phục hồi chức năng và Y học lao động và các nhà nghiên cứu Ecgônômi trong Viện. Nhóm điều trị này rất cần cho người lao động bị tổn thương nghề nghiệp. Người điều trị theo dơi thường xuyên ca bệnh và họp hàng tuần với văn pḥng bảo hiểm lao động (chịu trách nhiệm đền bù) và nhân viên xă hội, người t́m việc. Phải tiến hành việc điều tra chi tiết và xem tiêu chuẩn luật lao động, đặc biệt đối với bệnh nhân để xác định việc thực hiện hướng dẫn hay các tiêu chuẩn đền bù BNN.Kết quả ban đầu cho thấy khoảng 2/3 số công nhân bị tổn thương khó trở về lao động do những vấn đề về học hay lao động. Đối với họ, việc điều trị bệnh và theo dơi OPD (bệnh phổi tắc nghẽn) và đánh giá chức năng cần thực hiện. Trong thời gian theo dơi 4 tháng, 7 trong số 20 người trở về với công việc cũ hay đổi việc. Việc phân tích công việc tại chỗ cần phải làm, phải thăm tại chỗ, đánh giá tác hại đến sức khoẻ, điều này cần thiết cho việc chẩn đoán BNN, dự pḥng và thiết kế chương tŕnh trở về với lao động.Như vậy, quan niệm lồng ghép dự pḥng - đền bù - hồi phục lao động là cần thiết, đáp ứng nhu cầu của người lao động bị tổn thương nghề nghiệp và văn pḥng bảo hiểm Lao động.
Dịch tễ học mối liên quan giữa ô nhiễm AO/DIOXIN chiến tranh với các sinh sản bất thườngvà dị tật bẩm sinh của cư dân sống ở huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế
Trần Mạnh Hùng, Phùng Trí Dũng, Hoàng Đ́nh CầuBan 10 - 80 Bộ Y tế
Nghiên cứu điều tra dịch tễ học hồi cứu về mối liên quan giữa phơi nhiễm A.O/Dioxin chiến tranh đối với sức khỏe sinh sản được tiến hành trên 6.086 đối tượng - 1.094 gia đ́nh sinh sống tại 4 xă của huyện A Lưới, ngoại trừ những đối tượng đến định cư sau năm 1975. Kết quả phân tích Dioxin đối với mẫu đất, sinh phẩm, mẫu máu và sữa người được tính trung b́nh để chia mức độ ô nhiễm hiện tại ra làm 3 nhóm: Nặng (xă A So), trung b́nh (xă Hồng Thượng và Hương Lâm), không (xă Hồng Vân). Các thông tin về sức khỏe, phơi nhiễm thuốc trừ sâu, thói quen sinh hoạt...được thu thập bằng phỏng vấn trực tiếp, từ bệnh án lưu trữ của bệnh viện huyện, pḥng nông nghiệp huyện.Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên quan dịch tễ học giữa ô nhiễm môi trường (Dioxin trong đất, thực phẩm) với sinh sản bất thường (SSBT) và dị tật bẩm sinh (DTBS) của cư dân sống trong vùng A Lưới, biểu hiện bằng các tỷ lệ SSBT và DTBS ở thời điểm sau rải (10 và 25 năm) tăng cao hơn trước lúc rải từ 1,5 đến 4 lần. Mặt khác có sự đáp ứng giữa mức độ ô nhiễm và tăng cao tỷ lệ các tai biến sinh sản ở 3 nhóm xă bị rải có mức khác nhau (nặng, trung b́nh và không). Nghiên cứu c̣n cho thấy trong các loại SSBT ở A Lưới gặp cao nhất là sẩy thai tự nhiên, đứng hàng thứ hai là đẻ non con chết và DTBS, loại gặp ít hơn là thai chết lưu và chửa trứng.Kết quả khảo sát bước đầu gợi ư cho chúng ta thấy đường di chuyển của Dioxin từ môi trường vào cơ thể người thông qua chuỗi thức ăn mà dân cư A Lưới thường sử dụng như: Cá, gà, ngan, vịt và một kế hoạch pḥng chống tái nhiễm cần phải đặt ra đối với cư dân sống ở khu vực A Lưới, đặc biệt là sân bay A So cũ.
Luật pháp quốc tế bảo vệ vệ sinh an toàn lao động
Ilise L. Feilshans JD
Luật pháp quốc tế về Vệ sinh An toàn lao động (VSATLĐ) là chỗ dựa quan trọng để xem xét hiệu quả của luật quốc gia. Luật pháp quốc tế nhấn mạnh đặc điểm bảo vệ sức khoẻ nghề nghiệp như quyền con người. Nhu cầu khắp thế giới đối với khung điều luật làm tăng cường và bảo đảm lao động, sức khoẻ và sự sống c̣n của xă hội văn minh.Báo cáo này phác hoạ những luật pháp quốc tế về VSATLĐ, để thảo luận việc áp dụng luật vào nơi làm việc trong nhiều quốc gia. Phải thảo luận tổng quan về hiến pháp WHO, công ước ILO, các chỉ thị của EU (Cộng đồng châu Âu), công ước quốc tế về quyền xă hội, kinh tế, văn hoá, tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người vv…tiếp theo là phảI so sánh ư nghĩa của công cụ quốc tế đó và việc thực hiện trong thực tiễn lao động.Kết luận là không thiếu luật pháp quốc tế để tạo cơ sở pháp lư cho việc thực hiện những điều luật đă có, đối với các chuyên gia y tế, để cho mọi người được hưởng lợi ích của những điều luật đó.
“ Mô h́nh phối hợp dịch vụ, nghiên cứu & giảng dạy”
Janice CampKhoa Khoa học vệ sinh lao động và Môi trường, Đại học Washington
Doanh nghiệp thường cần đề cập nhiều vấn đề về Y học lao động và tiếp xúc nghề nghiệp. Các trường đại học và các trường giảng dạy có thể là nơi đề cập các nhu cầu công nghiệp. Tuy nhiên, các trường đại học cũng cần có cơ hội cho sinh viên ứng dụng các kiến thức học được vào hoàn cảnh “thế giới thực tiễn”. Nhóm tư vấn và nghiên cứu thực địa trường đại học Washington là một mô h́nh về nhóm dịch vụ trên cơ sở trường đại học, cung cấp không những chỉ các dịch vụ tư vấn nghiệp vụ, mà c̣n xác định kinh nghiệm học tập và nghiên cứu cho sinh viên và khoa. Một nghiên cứu trường hợp được tŕnh bày, chứng minh từ dịch vụ tư vấn, đánh giá sự tiếp xúc với Cobalt ở những công ty cưa sẻ gỗ phát triển thành một dự án nghiên cứu lớn với nhiều kinh nghiệm giúp sinh viên học tập. Tiếp xúc với Cobalt liên quan đến việc nghiên cứu cacbua Tungsten, một hợp kim cứng dùng làm công cụ cắt gỗ, có thể là một vấn đề về YHLĐ nghiêm trọng, gây lên các loại bệnh về phổi và then. Nhiều cửa hàng sửa chữa cưa ở Tiểu bang Washington được nhóm tư vấn và nghiên cứu hiện trường cung cấp dịch vụ tư vấn và đă phát hiện nồng độ Cobalt tăng cao. Thông tin từ dịch vụ tư vấn này được sử dụng làm các số liệu so bộ để xin NIOSH tài trợ. Qua sự tài trợ của Viện NIOSH, nghiên cứu công nghiệp ở tiểu ban Washington được tiến hành về đặc điểm của sự tiếp xúc đă hoàn thành yêu cầu của luận văn dựa vào học bổng này. Ngoài ra, địa điểm nghiên cứu rất tốt cho lớp học và kinh nghiệm giảng dạy.Nhóm tư vấn trên cơ sở trường đại học cho cơ hội lớn cho sinh viên và khoa trong việc giảng dạy và nghiên cứu, cải thiện vệ sinh an toàn cho khách hàng là các doanh nghiệp.
T́nh trạng dinh dưỡng và Khẩu phần thực tế trên đối tượng 40 - 60 tuổi tại một quận nội thành Hà Nội
Đỗ Thị Kim Liên và C.S.Khoa Dinh dưỡng Cơ sở - Viện Dinh dưỡng
Tiến hành điều tra về t́nh trạng dinh dưỡng, khẩu phần thực tế và một số yếu tố liên quan ở đối tượng tuổi 40 - 60 tại quận Hoàn Kiếm - Hà nội. Kết quả nghiên cứu cho thấy về t́nh trạng dinh dưỡng, tỷ lệ người thừa cân với BMI ³ 25 là 20 %, riêng nhóm tuổi 50 - 60 ở nữ là 25 %. Số người béo ph́ (BMI ³ 30) chỉ có 1 - 2 %. Tỷ lệ béo bụng ở nữ là 24,3 % và nam là 4,4 % (P < 0,001). Tỷ lệ béo bụng tăng theo lứa tuổi ở cả nam và nữ ( P < 0,001). Tỷ lệ % mỡ cơ thể cao > 25 % ở nam là 37,6 % và > 30 % ở nữ là 61,9 % ( P < 0,001). Về khẩu phần ăn, mức tiêu thụ thịt cao, nam là 131 g/người/ngày và nữ là 93 g/người/ngày, c̣n sử dụng rau thấp ( 160 g/người/ngày). Lượng Protein trong khẩu phần cao hơn nhu cầu, ở nam là 77 g/ngàyvà nữ là 66 g/ngày. Tỷ lệ các chất sinh nhiệt của khẩu phần P/L/G: 16/15/69. Đa số các vitamin trong khẩu phần có hàm lượng thấp hơn nhu cầu đề nghị.Về t́nh trạng sức khoẻ, tỷ lệ người có mức đường huyết mao mạch lúc đói ³ 110 mg/dl là 6,1 %, không có sự khác biệt giữa nam và nữ. Tỷ lệ người có đường huyết tăng theo lứa tuổi, ở nhóm 40 - 49 tỷ lệ là 3,7 %, nhóm tuổi 50 - 60 tăng lên 8,9 % (P < 0,01). Tỷ lệ người bị cao huyết áp là 12,7 %; nam cao hơn nữ (18,7 % và 11,1 %; P < 0,05). Tỷ lệ huyết áp cao tăng theo lứa tuổi, nhóm 40 - 49 là 8,4 % và 50 - 60 là 17,2 %; P < 0,05). Tỷ lệ người hút thuốc lá, uống bia rượu ở nam đều cao trên 50 %, c̣n rèn luyện thể dục thể thao hàng ngày đạt tỷ lệ 45 % ở nam và 36 % ở nữ.
Thực trạng bảo quản, sử dụng và dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật trên cây cỏ ngọttại An Vỹ, Khoái Châu, Hưng Yên
Nguyễn Thị Dư Loan, Nguyễn Thị PhươngHọc viện Quân Y
Nghiên cứu tiến hành nhằm đánh giá thực trạng bảo quản, sử dụng và dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) tại vùng trồng cây cỏ ngọt (Stevia rebaudiana Bertoni). Các tác giả đă sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu phỏng vấn về t́nh h́nh bảo quản, sử dụng HCBVTV; các triệu chứng chủ quan của người trực tiếp tiếp xúc với HCBVTV và xác định dư lượng HCBVTV bằng phương pháp sắc kư khí tại trung tâm kiểm định thuốc bảo vệ thực vật phía Bắc.Kết quả điều tra trên 1200 hộ dân tại An Vỹ, Khóai Châu, Hưng Yên cho thấy 100 % số hộ có sử dụng HCBVTV. Hoá chất thường sử dụng là: Wofatox 72 %, Monitor 80 %, Sec Sài G̣n (Cypermethrin) 100 %, Daconil 80 %, Kelthan 90 %, Validacin 54 %. Việc pha chế và sử dụng HCBVTV không được hướng dẫn chiếm tới 92 %. Dùng tay trộn hóa chất trong pha chế chiếm 86,5 %. Phương tiện pḥng hộ cá nhân thiếu: Kính 89,2 %; găng tay 83,8 %;. Việc bảo quản HCBVTV c̣n tuỳ tiện: Để trong nhà 12 %, trong bếp 40 %, treo ở chuồng gia súc 43 %. Bao b́ chai lọ đựng hoá chất sau khi sử dụng bị vứt bừa băi tại nơi phun. Sau khi phun HCBVTV, người dân có những biểu hiện: Mệt mỏi (86,7 %), kém ăn (10,5 %), nhức đầu (60,3 %), chóng mặt (26,7 %), rối loạn giấc ngủ (3,3 %) và mẩn ngứa (3,6 %). Kết quả xác định dư lượng HCBVTV trên cây cỏ ngọt phụ thuộc vào loại hoá chất sử dụng. Các loại HCBVTV có dư lượng cao là Cypermethrin (Sec Sài G̣n) 2,96mg/kg; Triclorphon (Dilexson) 82,16 mg/kg; Chlorothalonil (Daconil) có mức dư lượng thấp.
Nghiên cứu qui định về an toàn vệ sinh lao động và giới hạn tiếp xúc nghề nghiệp trong Khu vực Châu á Thái B́nh Dương
Malcolm Sim*, James Chan*, Wai On Phoon*** Khoa Dịch tễ và Y tế dự pḥng, Trường Đại học Monash, Melbourne, úc** Khoa Y tế Công cộng, Trường Đại học Sydney, Sydney, úc
Mục tiêu của nghiên cứu là so sánh các dạng qui định về An toàn vệ sinh lao động, các qui tŕnh xây dựng tiêu chuẩn và giá trị của một vài giới hạn tiếp xúc nghề nghiệp khác nhau của các hoá chất ở nơi làm việc trong các nước ở Khu vực Châu á Thái B́nh Dương.Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành ở các nước Nam á, Đông Nam á, Đông á và khu vực Khu vực Thái B́nh Dương bằng phiếu điều tra.Ở mỗi nước, các nhà chuyên môn về Y học lao động làm việc trong các cơ quan Chính phủ, ngành công nghiệp hoặc viện nghiên cứu được xác định, thường một trong các tác giả quen biết. Phiếu điều tra bao gồm các câu hỏi liên quan đến các qui định của quốc gia về an toàn vệ sinh lao động, các cơ quan bắt thi hành luật pháp, qui tŕnh xây dựng giới hạn tiếp xúc nghề nghiệp và các giá trị giới hạn tiếp xúc nghề nghiệp của Amiăng, Silíc và Ch́ được gửi đến mỗi người. Sử dụng thống kê mô tả.15 nước cung cấp số liệu cho điều tra. 11 nước có các qui định an toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) kiểu Roben giống như ở nước Anh trong những năm 1970. Chỉ có 3 nước thi hành các qui định của họ ở cấp Khu vực. Quyền lực của các cơ quan thi hành rất khác nhau. Tất cả các nước trừ hai nước có hệ thống bảo hiểm công nhân. Tất cả các nước trừ ba nước đă có qui định các giới hạn tiếp xúc nghề nghiệp cho các tác hại nơi làm việc và phần lớn các giá trị này dựa vào các Giá trị giới hạn ngưỡng của Hội nghị các nhà Vệ sinh Công nghiệp Hoa Kỳ. Mức giới hạn tiếp xúc nghề nghiệp rất khác nhau, đối với Amiăng Chrysotile với khoảng từ 0,5 f/ml đến 5 f/ml, hơi Ch́ trong không khí từ 0,75 microgram/m3 đến 2,5 microgram/m3 và Silíc tinh thể từ 0,1 mg/m3 đến 10 mg/m3.Điều tra này đă cho thấy sự khác nhau đáng kể về phương pháp mà các nước trong khu vực Châu á Thái B́nh Dương xây dựng luật pháp về ATVSLĐ và xây dựng tiêu chuẩn cho các tác hại nơi làm việc. Các giới hạn tiếp xúc nghề nghiệp khác nhau có thể có những gợi ư về sức khoẻ của người lao động tiếp xúc, đặc biệt ở những nước có các giới hạn tiếp xúc nghề nghiệp ở ngưỡng trên của khoảng dao động.
Xây dựng năng lực y học lao động ở Ấn Độ - một mô h́nh hợp tác trong tương lai ở các nước đang phát triển?
Norbert L. Wagner, Kalpana BalakrishnanKhoa Kỹ thuật Vệ sinh Môi trường, Trường Đại học Y vàViện nghiên cứu Sri Ramachandra (Trường Đại học Deemed), Porur, Chennai - ấn Độ
Mục tiêu của nghiên cứu là tŕnh bày những khó khăn phải đối mặt và các giải pháp được t́m thấy trong việc xây dựng dịch vụ tư vấn công nghiệp và các chương tŕnh đào tạo mới về Vệ sinh công nghiệp và Y học lao động ở ấn Độ. Các lĩnh vực Vệ sinh công nghiệp và Y học lao động dường như không có ở ấn Độ. Các phương tiện giảng dạy rất khan hiếm. Vai tṛ của các chuyên gia như nhà vệ sinh công nghiệp, bác sĩ doanh nghiệp, thậm chí nhân viên an toàn không được xác định rơ trong luật. Vấn đề an toàn – sau thảm họa Bhopal – hầu như bị hạn chế để phát triển và xây dựng an toàn. Pḥng chống các bệnh nghề nghiệp là nhiệm vụ đầu tiên th́ không được xây dựng. Không có chuyên gia về Y học lao động và Vệ sinh môi trường. Các phương tiện tin cậy của pḥng thí nghiệm để phân tích các hóa chất th́ rất khó t́m thấy. Thi hành pháp luật kém và bị cản trở do tham nhũng.Được khởi xướng bởi một nhà Vệ sinh công nghiệp, khoa đă bắt đầu dịch vụ tư vấn cho các ngành công nghiệp từ năm 1997. Cùng với sự giúp đỡ của các nhà Vệ sinh công nghiệp nước ngoài và chuyên gia an toàn hỗ trợ bởi Tổ chức phát triển của Đức, các nhà vệ sinh khác được đào tạo trong ba năm qua.Sau khi có sự hợp tác của các chuyên gia Đức về Y học lao động, năm 2002, chương tŕnh giảng dạy được xây dựng để bắt đầu hai chương tŕnh đào tạo hàn lâm "Cao học về Vệ sinh và An toàn công nghiệp" và "Khóa đào tạo nghiên cứu sinh về Y học lao động” cho các bác sĩ doanh nghiệp.Sự cam kết lâu dài của tổ chức phát triển nước ngoài đối với các chuyên gia ở lại nước đang phát triển từ 6 - 12 năm là điều kiện tiên quyết cho việc chuyển giao hiệu quả kiến thức. Sự có mặt và hợp tác lâu dài của các chuyên gia nước ngoài trong cơ cấu hiện có là phương tiện để xây dựng các chương tŕnh hàn lâm mới và giới thiệu các nghề nghiệp mới.
Tác động kinh tế của chương tŕnh tiêm chủng viêm gan B một bệnh viện tại Nam Ấn độ
Norbert L. Wagner, Kalpana BalakrishnanKhoa Kỹ thuật Vệ sinh Môi trường, Trường Đại học Y vàViện nghiên cứu Sri Ramachandra (Trường Đại học Deemed), Porur, Chennai - Ấn Độ
Mục tiêu của báo cáo là chứng minh lợi ích kinh tế ước tính để khuyến khích các thói quen tốt trong An toàn vệ sinh lao động, sử dụng ví dụ về chương tŕnh tiêm chủng viêm gan B cho các y tá. Điều tra bằng bảng phỏng vấn về các chấn thương do các vật sắc nhọn ở các y tá (N = 300) tại một bệnh viện của trường đại học. Tính tỷ lệ mới mắc dựa vào tỷ lệ hiện mắc đă biết về viêm gan B, viêm gan C và HIV ở ấn Độ, ước tính các chi phí cho “dự pḥng” đối lập với “không dự pḥng".Các ước lượng dè dặt. Tỷ lệ chấn thương trung b́nh là 3 chấn thương do vật sắc nhọn trong 1 năm và ở 1 y tá. Chúng tôi tính toán 9 viêm gan B, 0,3 viêm gan C - và 0,06 HIV - là các bệnh lây nhiễm mắc phải trong 1 năm. Đối với lây nhiễm viêm gan B chúng tôi đă tính toán các chi phí không tránh khỏi là 23.300 tiền ấn Độ - INR (485 Đô la Mỹ) cho một trường hợp và chi phí hàng năm là 140.000 INR (2.980 đô la Mỹ) cho tất cả các trường hợp trong bệnh viện này. Các chi phí của chương tŕnh tiêm chủng được ước tính là 127.000 tiền ấn Độ - INR (2.700 đô la Mỹ) trong năm thực hiện. Trong thời gian 10 năm (thời gian trung b́nh hiệu quả cho tiêm chủng viêm gan B) tiền tiết kiệm do pḥng bệnh có thể tích lũy được là 1 270.000 tiền ấn Độ - INR ( 27.000 đô la Mỹ). Tiếp theo báo cáo này, Chính phủ đă quyết định tiêm chủng viêm gan B cho tất cả các y tá, các nhân viên bảo dưỡng và các bác sĩ. Tất cả các sinh viên và nghiên cứu sinh sẽ yêu cầu sau này phải tiêm chủng. Những lợi ích khác của chương tŕnh sức khỏe người lao động là danh tiếng của bệnh viện, động viên nhân viên, giảm thời gian nghỉ việc và tốc độ thay thế nhân viên thấp hơn.Tính toán chi phí tương đối đơn giản chứng minh là một dụng cụ có sức mạnh lớn để thuyết phục nhân viên hành chính và người quản lư về lợi ích và tính hiệu quả - chi phí của các biện pháp pḥng ngừa. Các điều đó phải cần có nhiều hơn trong các nghiên cứu và công bố.
Duy tŕ việc dự báo sức khoẻ người lao động, một quan điểm cơ-sinh học
Pingle Shyam (1), Shanbhag S. M. (2),Reliance Industries Ltd, Patalganga, India
Duy tŕ việc dự báo là một thực hành cơ học, phổ biến trong công nghiệp. Do công nhân có nhu cầu nói chung, tiếng nói với các đồng nghiệp cơ học và ứng dụng cùng những nguyên lư đối với sức khoẻ người lao động, nên chúng tôi, ở công ty công nghiệp hữu hạn Reliance Pataganga, ấn Độ đă phân tích kỹ lưỡng những số liệu giám sát y học cho người lao động trong năm 2001 & 2002. Trong thời gian này, số người mới tuyển và nghỉ hưu rất ít, nên h́nh thành thuần tập nghiên cứu kết quả phân tích cho thấy số hiện mắc bệnh tiểu đường và cao huyết áp không kiểm soát được tăng cao. Người lao động có nguy cơ cao được xác định và được đưa vào danh mục để thực hiện những biện pháp can thiệp. Họ được tư vấn đầy đủ về sự cần thiết phải thay đổi lối sống, phải được giám sát thường xuyên các thông số về huyết áp, về đường máu vv…ở những khoảng thời gian đều đặn được định trước. Họ c̣n được thông báo về cách điều trị. Sau một năm, nhóm người có nguy cơ cao đă được xác định có sự cải thiện có ư nghĩa các thông số giám sát như đường máu, huyết áp, lượng Cholesterol huyết thanh vv…Số hiện mắc của toàn thể nhóm bệnh tiểu đường không được kiểm soát giảm từ 5,6 % xuống 4,3 % và nhóm cao huyết áp giảm từ 3,1 % xuống 2,3 %. Điều này trái ngược rơ rệt với xu hướng tăng bệnh trong những năm trước. Sự theo dơi hệ thống thuần tập có thể cho những số liệu có giá trị về quản lư yếu tố nguy cơ. Những phát hiện nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự can thiệp quản lư yếu tố nguy cơ. Nghiên cưú theo dơi lâu dài một cách chu đáo là cần thiết để đánh giá tác động đến sự thay đổi yếu tố nguy cơ và xu hướng thực trạng bệnh. Các thày thuốc công nghiệp ngày nay không những chớ cần dự đoán sự đe doạ đến sức khoẻ người lao động mà c̣n phải đề xuất và ảnh hưởng đến sự thay đổi yếu tố nguy cơ qua những can thiệp đổi mới chiến lược.Quan điểm duy tŕ sự dự đoán có thể được các nhà quản lư công nghiệp chấp nhận và giúp cho việc hoàn thành mục tiêu của thày thuốc công nghiệp. Báo cáo sẽ thảo luận phương pháp luận và kết quả nghiên cứu chi tiết.
Thay đổi các yếu tố nguy cơ tại nơi làm việc: một kinh nghiệm của Ấn độ
Pingle S. R. (1), Shanbhag S. M. (2),(1) Công ty Trách nhiệm Hữu hạn, Patalganga, ấn Độ(2) Công ty Trách nhiệm Hữu hạn, Mumbai, ấn độ.
Bài báo này tŕnh bày sự phát triển các chiến lược, sự thực hiện và tác động tiếp theo đến tỷ lệ một số các các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch ở một cơ sở công nghiệp của ấn Độ. Nghiên cứu thuần tập được tiến hành ở 2 nhóm đối tượng: nhóm nghiên cứu: Pḥng Hoá dầu (Petrochemical Division) và nhóm đối chứng: Pḥng Sợi (Fiber Division). Một nỗ lực phối hợp (bao gồm giáo dục sức khoẻ rộng răi, tư vấn cá nhân, “ăn kiêng”, vv…) nhằm thay đổi những yếu tố nguy cơ được tiến hành ở một cơ sở công nghiệp. Phân tích tỷ lệ các yếu tố nguy cơ ở hai nhóm được thực hiện sau 1 năm.Ở nhóm thứ nhất, số các trường hợp có lượng Cholesterol cao (> 200 mg/dl) giảm đáng kể. Quan sát thấy rằng, mặc dầu số người lao động có cân vượt quá (Body Mass Index > 25) tăng ở cả hai nhóm, nhưng có sự khác nhau đáng kể ở tỷ lệ tăng. ở nhóm Hoá dầu, tỷ lệ hiện mắc quá cân của người lao động tăng từ 39 % đến 43 % trong khi đó ở nhóm Sợi tỷ lệ đó tăng từ 31,8 % đến 41,5 %. Tỷ lệ tăng Cholesterol trong huyết thanh ở nhóm Hoá dầu giảm từ 39,4 % xuống 31,1 %. Ngược lại, tỷ lệ tăng Cholesterol trong huyết thanh ở Sợi tăng đă từ 22.4 % đến 29.5 %.Để đánh giá tạm thời, các kết quả giúp chúng ta có các bài học sau:“Thay đổi lối sống” bao gồm một sự kiểm tra kỹ lưỡng đầy đủ về tinh thần.Phải có một yếu tố là cam kết từ những người tham gia.Cần có các xét nghiệm phức tạp hơn như mô tả Lipit đầy đủ và cần theo dơi cẩn thận những diễn biến của tim mạch.Một sự theo dơi có hệ thống nghiên cứu thuần tập giống như mang lại những số liệu có giá trị về quản lư các yếu tố nguy cơ. Các kết quả khẳng định một cách rơ ràng tầm quan trọng của can thiệp các yếu tố nguy cơ. Cần có các nghiên cứu theo dơi cẩn thận để đánh giá tác động sự thay đổi các yếu tố nguy cơ và xu hướng bệnh tật hiện thời.
Khẩu phần ăn và t́nh trạng dinh dưỡng của công nhân lái tàu hoả
Phạm Thị Thái, Ngô Mai HạnhTrung tâm Y tế dự pḥng Đường sắt vàPḥng Dinh dưỡng Cộng đồng Viện Dinh dưỡng Trung ương
Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá khẩu phần thực tế, mức tiêu hao năng lượng và t́nh trạng dinh dưỡng của công nhân lái tàu tại 3 xí nghiệp đầu máy Hà nội - Đà Nẵng – Sài G̣n lứa tuổi 25 - 40. Đề tài đă điều tra khẩu phần ăn của 67 đối tượng bằng phương pháp hỏi ghi 24 h, xác định tiêu hao năng lượng bằng phương pháp phỏng vấn, đánh giá t́nh trạng dinh dưỡng bằng chỉ số khối cơ thể BMI. Các số liệu được xử lư, phân tích kết quả bằng chương tŕnh EPIINFO 6.0, FOXPRO và các test thống kê y học.Kết quả nghiên cứu cho thấy về khẩu phần, mức tiêu thụ gạo đạt 398,7 g/người/ngày nhưng tiêu thụ nhiều các lương thực chế biến sẵn (38,4 g/người/ngày), khoai củ đậu đỗ tiêu thụ ở mức thấp. Các thức ăn động vật tiêu thụ ở mức trung b́nh 286,5 g/ngày, đặc biệt là thịt (167 g/người/ngày) và trứng sữa (40,1 g/người/ngày). Mức tiêu thụ đường mật cao (22,2 g/người/ngày). Năng lượng khẩu phần trung b́nh đạt 2281,1 Kcal/người/ngày thoả măn được 96,32 % mức năng lượng tiêu hao. Về mức tiêu hao năng lượng: Mức tiêu hao năng lượng trung b́nh của công nhân lái tàu là 2368,3 Kcal/ngày. Về t́nh trạng dinh dưỡng: Theo phân loại của WHO có 75,33 % công nhân có t́nh trạng dinh dưỡng ở mức b́nh thường; 2,65 % công nhân bị thiếu năng lượng trường diễn độ I; 22,75 % công nhân có biểu hiện thừa cân; 0,27 % béo ph́ độ I.Như vậy, năng lượng do Protit cung cấp vượt quá nhu cầu khuyến nghị và nhu cầu về chất béo đạt tới giới hạn trên của khuyến nghị; cần có giải pháp tăng sử dụng cá, đậu, rau trong bữa ăn, hạn chế sử dụng thịt và chất béo động vật. Mức tiêu hao năng lượng của công nhân lái tàu tương đương với mức lao động trung b́nh; cần điều tra khẩu phần và tiêu hao năng lượng trong 5 ngày liên tục để đánh giá cân bằng giữa năng lượng ăn vào và năng lượng tiêu hao được toàn diện hơn. 22,02 % công nhân có biểu hiện thừa cân; cần xây dựng chế độ ăn thích hợp, trước mắt có những truyền thông về dinh dưỡng hợp lư, theo dơi cân nặng và huyết áp định kỳ.
Môi trường Việt Nam - ô nhiễm hoá chất chiến tranh và hậu quả với sức khoẻ
Lê Hồng Thơm - Trần Mạnh Hùng - Phùng Trí DũngBan 10 – 80 - Bộ Y tế
Chiến tranh hoá học kéo dài hơn 10 năm đă làm môi trường sinh thái miền nam Việt nam ô nhiễm bới các hoá chất độc hại như PCDDs, PBs.. Với hàng trăm kg Dioxin - hoá chất độc hại nhất cho đến nay đă để lại nhiều hậu quả nặng nề và lâu dài lên môi trường sống, ảnh hưởng đến sức khoẻ quần cư dân bị phơi nhiễm.Gần 40 công tŕnh điều tra dịch tễ học cộng đồng về ảnh hưởng phơi nhiễm chất Da cam/Dioxin đến sức khoẻ do Uỷ ban 10 - 80 (Ban 10 - 80 Bộ Y tế) phối hợp với các sơ sở y học trong cả nước thực hiện, với tổng số hơn 210.000 người dân, và hơn 25.000 cựu chiến binh miền Bắc đă chiến đấu ở các vùng bị rải miền Nam.Các kết quả nghiên cứu cho thấy môi trường bị ô nhiễm đă ảnh hưởng nặng nề đến sức khoẻ quần thể phơi nhiễm nói chung, cũng như sức khoẻ sinh sản nói riêng, với sự khác biệt có ư nghĩa thống kê, dựa trên các giá trị RR/OR, CI., p, AR %...Tần suất mắc bệnh cao hơn ở quần thể phơi nhiễm so với quần thể không bị phơi nhiễm. Các bệnh có đủ cơ sở để cho rằng có liên quan đến tiếp xúc với chất diệt cỏ: Hội chứng suy nhược thần kinh (Bệnh tâm căn suy nhược), Bệnh đau đầu, viêm thần kinh toạ, thoái hoá cột sống thắt lưng, viêm gan mạn, sạm da, viêm da dị ứng. Tai biến sinh sản như sảy thai, chửa trứng, thai chết lưu, Dị tật bẩm sinh, tử vong trẻ em tuổi bú sữa mẹ có tần suất tăng cao có ư nghĩa thống kê. Có mối quan hệ liều lượng - đáp ứng giữa tiếp xúc và hậu quả sức khỏe.
“Giáo dục phổ cập” phương pháp đào tạo hiệu quả cho công nhân tŕnh độ văn hoá thấp
Tom O’Connor, Điều phối viênMàng lưới Quốc gia về Uỷ ban An toàn và Sức khoẻ Nghề nghiệp
Bài báo này sẽ tŕnh bày những kinh nghiệm của tác giả 15 năm tiến hành đào tạo về an toàn và vệ sinh lao động cho công nhân tŕnh độ văn hoá thấp và đưa ra những đề xuất về các phương pháp đào tạo có hiệu quả. Đào tạo công nhân có hiệu quả là thành phần quan trọng trong chương tŕnh pḥng chống chấn thương và bệnh nghề nghiệp. Để có hiệu quả, đào tạo phải được tiến hành sao cho công nhân hiểu và nhớ được những thông điệp an toàn. Giáo viên đào tạo cần phải nhận ra rằng công nhân có tŕnh độ văn hoá hạn chế th́ học đựơc nhiều hơn thông qua các phương pháp giảng dạy không chính thức và tham gia. Bài báo này sẽ mô tả một vài phương pháp giảng dạy đảm bảo giao tiếp có hiệu quả với công nhân có tŕnh độ văn hoá thấp.Bài báo này sẽ mô tả các phương pháp giảng dạy đă được sử dụng thành công cho nhóm công nhân tŕnh độ văn hoá thấp ở Mỹ, Châu Mỹ La Tinh và các khu vực khác. Các phương pháp giảng dạy này không dựa nhiều vào các tài liệu viết và bài giảng của giáo viên, mà chủ yếu dựa vào sự tham gia của công nhân vào giải quyết vấn đề. Kỹ thuật bao gồm các hoạt động của nhóm nhỏ lôi cuốn công nhân phát hiện các vấn đề an toàn và sức khoẻ tại vị trí làm việc; “các tṛ chơi đố vui” giúp công nhân giải trí và thách thức kiến thức của công nhân về các giải pháp an toàn; “vẽ sơ đồ nguy cơ” lôi cuốn công nhân tạo ra bản đồ thị giác về các tác hại ở nơi làm việc của họ; “đóng vai” phản ánh những vấn đề thực tế về an toàn và sức khoẻ và đ̣i hỏi công nhân xem xét và thảo luận về các giải pháp.Bài báo này sẽ chứng minh đào tạo sử dụng các phương pháp tham gia đó có hiệu quả lớn hơn nhiều trong truyền đạt những thông điệp về an toàn và sức khoẻ cho công nhân so với các bài giảng và tài liệu viết truyền thống. Các bài học này có thể được áp dụng cho các công nhân tŕnh độ văn hoá thấp ở cả các nước phát triển và các nước đang phát triển.
Nghiên cứu việc thực hiện các quy định khám sức khỏe định kỳ, khám bệnh nghề nghiệp cho người lao động tại các doanh nghiệp
Nguyễn Thị Hồng TúCục Y Tế Dự Pḥng và Pḥng chống HIV/AIDS
Nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang ở 1590 công nhân bao gồm 175 cán bộ quản lư, 153 cán bộ y tế, 32 cán bộ tham gia hoạch định và thực hiện các chính sách về bệnh nghề nghiệp ở 37 cơ sở sản xuất của 7 tỉnh Thái Nguyên, Quảng Ninh, Hà Nội, Nam Định, Nghệ An, Thừa Thiên Huế và thành phố Hồ Chí Minh nhằm khảo sát, đánh giá việc thực hiện các quy định về pḥng chống bệnh nghề nghiệp cho người lao động.Sử dụng bảng phỏng vấn và khảo sát tại các doanh nghiệp về thực trạng thực hiện các văn bản pháp quy hiện nay về chế độ khám tuyển, khám sức khỏe định kỳ (SKĐK), khám bệnh nghề nghiệp (BNN) và giám định bệnh nghề nghiệp.Kết qủa nghiên cứu cho thấy nh́n chung việc thực hiện các quy định chung về bảo hộ lao động cho các công nhân có nguy cơ bệnh nghề nghiệp khá tốt, hàng năm 86,3 % các doanh nghiệp đă dành kinh phí cho công tác khám SKĐK, khám BNN. Tỉ lệ được khám tuyển là 93,8 %. Khám định kỳ hàng năm là 66,7 %, khám định kỳ 6 tháng/lần 19,5 %, có 4,7 % công nhân không được khám sức khoẻ định kỳ. Chất lượng khám tuyển và khám sức khoẻ định kỳ cho công nhân tiếp xúc yếu tố nguy cơ chưa cao, hầu hết không làm các xét nghiệm. Tỉ lệ công nhân được khám bệnh nghề nghiệp được đánh giá trên 75 %. Tuy nhiên c̣n một số ư kiến về chất lượng chuyên môn của các cơ sở tổ chức khám và thời gian trả lời kết quả c̣n chậm. Khó khăn về phía doanh nghiệp trong việc tổ chức khám bệnh nghề nghiệp cho công nhân chủ yếu là do điều kiện kinh phí nên ưu tiên hơn cho những người có nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp cao. Ngoài ra c̣n một số công nhân ngại khám bệnh nghề nghiệp. Tỷ lệ công nhân được khám lại bệnh nghề nghiệp rất thấp 13,6 %. Tỷ lệ mất khả năng lao động trong giám định bệnh nghề nghiệp trung b́nh là 31,18 %. Thấp nhất là 11 % cao nhất là 76 %. Số lượng công nhân mất khả năng lao động từ 31 đến 40 % chiếm tỷ lệ cao nhất 44,3 %, mất khả năng lao động < 30 % là 22,7 % ; vẫn c̣n 26,6 % không được hưởng các chế độ do chưa được giám định tỷ lệ mất khả năng lao động. Thời gian trung b́nh để làm thủ tục giám định kéo dài, trung b́nh trên 9 tháng. Số giám định lại chỉ có 3,2 %. Số công nhân bị bệnh nghề nghiệp được bố trí lại lao động chiếm tỷ lệ 25,7 %. Trong số 28 trường hợp có tỷ lệ mất sức lao động trên 41 %, chỉ có 16 trường hợp được bố trí lại lao động. Việc thực hiện chi trả bảo hiểm y tế và hưởng đầy đủ chế độ trợ cấp ốm đau khá tốt. Ngoài ra c̣n có chế độ tiền thưởng và chế độ nghỉ điều dưỡng vào mùa hè.Cần sửa đổi một số điều khoản cho phù hợp như bổ sung một số qui định về khám sức khỏe định kỳ, khám bệnh nghề nghiệp. Cần tăng cường thanh kiểm tra và xử phạt nghiêm những vi phạm. Tăng cường trang thiết bị cho các cơ sở y tế để thực hiện tốt công tác khám sức khỏe định kỳ, khám bệnh nghề nghiệp và để tư vấn cho người lao động bị bệnh nghề nghiệp trong việc bố trí công việc.
|