SỨC KHỎE MÔI TRƯỜNG

 

Một số nét chủ yếu về thực trạng chất thải trong ngành nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam  

 

Lê Doăn Diên

Trung tâm Tư vấn Đầu tư Nghiên cứu Phát triển Nông thôn Việt Nam (INCEDA)

 

             ở Việt Nam do mật độ dân số cao và do sự tăng dân số nhanh, đặc biệt trong những năm gần đây do sự xây dựng cơ sở hạ tầng và quá tŕnh đô thị hoá phát triển mạnh đan xen với quá tŕnh thương mại hoá, công nghiệp hoá và hiện đại hoá nền kinh tế, cho nên đă làm cho môi trường sống ngày càng bị ô nhiễm bởi các loại chất thải.

  Đặc biệt trong nông nghiệp và nông thôn, môi trường cũng đă bị ô nhiễm bởi các chất thải rắn, chất thải lỏng và chất thải khí vốn phát sinh từ sinh hoạt của cộng đồng dân cư, từ các hoạt động trước thu hoạch và sau thu hoạch trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp cũng như từ các hoạt động của lănh vực chế biến nông, lâm, hải sản và các hoạt động của các làng nghề. Thực trạng này đ̣i hỏi phải nghiên cứu và t́m các biện pháp giải quyết.
 Công tŕnh này đă tiến hành nghiên cứu, điều tra, thống kê (bằng các phương pháp điều tra trực tiếp, điều tra bằng phiếu, bằng phương pháp ngoại suy, phương pháp dự báo, bằng các phương pháp hoá học, hoá lư và hoá sinh hiện đại vv...) các loại chất thải lỏng, chất thải rắn cũng như chất thải rắn nguy hại phát sinh trong nông nghiệp và nông thôn.
 Từ những kết quả đạt được đă đề xuất 3 loại giải pháp nhằm giải quyết thực trạng ô nhiễm môi trường ở trong ngành nông nghiệp và nông thôn:
Các giải pháp thuộc phạm trù kinh tế - xă hội
Các giải pháp thuộc phạm trù cơ chế chính sách
Các giải pháp thuộc phạm trù khoa học công nghệ

 

Phân tích đánh giá dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật trong một số nguồn nước

ở hai tỉnh Gia Lai– Đắc Lắc 

 

Bùi Vĩnh Diện, Vũ Đức Vọng và cộng sự

Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên

 

 

Nghiên cứu tiến hành nhằm khảo sát, đánh giá dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) trong một số nguồn nước tại Gia lai và Đắc Lắc bao gồm nước bề mặt (Biển Hồ, Hồ Lắc); nước giếng đào, nước ngầm nông và nước ngầm lộ thiên. Các mẫu nước được phân tích tại labo sắc kư Viện VSDT Tây Nguyên. Kết quả được đánh giá theo tiêu chuẩn 505 BYT/QĐ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy nguồn nước Biển Hồ có 1 - 2 loại HCBVTV gốc Chlor hữu cơ, hàm lượng trung b́nh 0,05 – 0,06 mg/l, thấp dưới tiêu chuẩn cho phép. Dư lượng HCBVTV trong nước Hồ Lắc có hàm lượng trung b́nh 0,149 - 0,432 mg/l, có mặt 4 loại hoá chất. Nguồn nước ngầm nông, giếng đào có dư lượng HCBVTV gốc Chlor hữu cơ có hàm lượng trung b́nh 0,015 - 0,558 mg/l, có mặt 11 loại hoá chất. Nguồn nước mạch lộ thiên có dư lượng HCBVTV gốc Chlor hữu cơ hàm lượng trung b́nh 0,004 - 0,084 mg/l và có 1 - 2 loại hoá chất, thấp dưới tiêu chuẩn cho phép.
Các tác giả kiến nghị các ngành các cấp cần có các văn bản chỉ đạo và có những biện pháp quản lư chặt chẽ để việc buôn bán, sử dụng các loại HCBVTV được an toàn hơn.

         

 

T́m hiểu dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật trong môi trường đất, nước ở một số điểm nghiên cứu tại tỉnh Đắc Lắc 

 

Bùi Vĩnh Diên, Vũ Đức Vọng và cộng sự

Viện VSDT Tây Nguyên

  

Nghiên cứu đánh giá thực trạng dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) trong môi trường đất, nước tại công ty cà phê 719 – công ty Eapok và trại lúa giống Hoà Xuân –Thành phố Buôn Ma Thuột. Các tác giả sử dụng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên tại các địa điểm nghiên cứu. Mẫu nghiên cứu được tách chiết, tinh chế và phân tích bằng sắc kư khí mao quản. Các kết quả được đánh giá theo tiêu chuẩn 1329/2002/QĐ - BYT.
Kết quả nghiên cứu cho thấy 62,22 %  đất canh tác có dư lượng HCBVTV trong đó 44,44 %  mẫu có dư lượng vượt tiêu chuẩn. Đất trồng rau, màu có tỷ lệ số mẫu dư lượng cao nhất (66,66 %) trong đó 60 %  số mẫu có dư lượng vượt tiêu chuẩn cho phép. 60 %  số mẫu đất trồng cà phê và đất trồng lúa nước có dư lượng HCBVTV, trong đó 33.33 %  và 40 %  số mẫu có dư lượng vượt tiêu chuẩn cho phép. Trong các loại nguồn nước có 58,33 %  số mẫu có dư lượng HCBVTV và 20 %  số mẫu có dư lượng vượt tiêu chuẩn. Nước giếng đào có 60 %  số mẫu có dư lượng HCBVTV, 20 %  số mẫu có dư lượng vượt tiêu chuẩn cho phép. Nước hồ thuỷ lợi có 53,33 %  mẫu có dư lượng, số mẫu có dư lượng vượt tiêu chuẩn cho phép. Nước ruộng có 66,66 %  mẫu có dư lượng, 33,33 %  mẫu có dư lượng vượt tiêu chuẩn. Nước sông, suối có 53,33 %  số mẫu có dư lượng, không có mẫu vượt tiêu chuẩn cho phép.
Kết luận của các tác giả cho thấy dư lượng HCBVTV ở môi trường đất nước đang ở mức báo động và có nguy cơ gia tăng trong quá tŕnh sử dụng tại Đắc Lắc trong những năm tới. Các tác giả kiến nghị cần tăng cường các biện pháp truyền thông, giáo dục cho các đối tượng lao động về an toàn HCBVTV cũng như trong công tác quản lư kinh doanh buôn bán vận chuyển.

 

Báo cáo kết quả xử lư vệ sinh môi trường tại một số đảo nổi thuộc Nam Trung bộ 

 

Vũ Văn Định và cộng sự

Viện Vệ sinh pḥng dịch quân đội

  

Nghiên  cứu được tiến hành nhằm điều tra thực trạng Vệ sinh môi trường và áp dụng các biện pháp kỹ thuật để cải thiện và duy tŕ vệ sinh môi trường tại một số đảo nổi thuộc nam Trung bộ.
Đánh giá lượng thải trung b́nh trong 01 ngày, thu gom và xử lư chất thải rắn và nước thải, quản lư và xử lư phân (phân người và phân gia súc). Sử dụng dung dịch EM , BIOWC – 97 , Cloramin B để xử lư môi trường.
Sau khi áp dụng các biện pháp kỹ thuật xử lư vệ sinh môi trường tại các đảo kết quả cho thấy t́nh h́nh vệ sinh môi trường được cải thiện một cách đáng kể. Một số giải pháp tiếp theo được đề xuất để duy tŕ và củng cố vệ sinh môi trường trên các đảo như định kỳ phun thuốc diệt côn trùng, xử lư nước (nước sinh hoạt , nước thải), các biện pháp xử lư chất thải rắn (trước mắt và lâu dài), đưa chế độ vệ sinh đi vào nề nếp.

 

 

Đánh giá chất lượng nước hiện nay và điều tra a-sen ở  Lào 

 

Duangchanh keoAsa (1), Tayphasavanh Fengthong (2)

(1) Vụ Vệ sinh và Pḥng bệnh, Bộ Y tế

(2) Khoa Sức khỏe Môi trưiờng, DHDP, Bộ Y tế

 

Theo kết quả đánh giá 50 mẫu, t́m thấy 60 % cộng đồng sử dụng giếng đào, dù nguồn nước của họ bị nhiễm các dịch bệnh tiêu chảy thường xuyên. Mức độ bị bệnh ỉa chảy ở cộng đồng sử dụng các máy bơm tay hoặc những hệ thống hút nước (GFS) thấp hơn nhiều so với cộng đồng dùng giếng đào (23 % ở cộng đồng dùng bơm tay và 16 % ở cộng đồng dùng hệ thống hút nước). Lưu ư là nước từ giếng đào có độ đục cao hơn hướng dẫn khuyến cáo của WHO. Đánh giá nguy cơ của giếng đào cho thấy 70 % có nguy cơ trung b́nh với sức khỏe và 20 % có nguy cơ cao. Điều tra máy bơm tay, nguy cơ ô nhiễm thấp hơn, 76 % có nguy cơ thấp, 19 % có nguy cơ trung b́nh và 5 % có nguy cơ cao. Trong các hệ thống hút nước, nổi bật là  4 trong 6 (66 %) hệ thống có nguy cơ ô nhiễm thấp.
Tất cả các chỉ số nằm trong hướng dẫn của WHO cho nước uống, ngoại trừ:
Độ pH: Đặc biệt ở Nam Lào nước có tính a xít một chút .
Sắt: Trong 80 % trường hợp nồng độ sắt vượt tiêu chuẩn của WHO, do chính nguồn nước và các máy bơm nhăn ấn Độ.
Mangan: Hai trong 50 mẫu nước có nồng độ mangan cao hơn hướng dẫn của WHO.
Crôm: Tất cả các mẫu phân tích đều vượt hướng dẫn của WHO.
Bari: Tất cả các mẫu phân tích đều vượt 0,7  mg/l.
A-sen trong nước ngầm: đă tổ chức điều tra 681 giếng ở các vùng nguy cơ tại 7 tỉnh phía Bắc trong năm 2002-2003. Một vài giếng có nồng độ vượt quá 10 ppb. Chỉ có 1 giếng đựoc xét nghiệm vượt quá 50 ppb.
 

 

Bước đầu đánh giá chất lượng không khí về mặt vi sinh tại một pḥng thí nghiệm vi sinh. 

 

Từ Hải Bằng, Hoàng Thị Nghĩa

Đàm Th­ương Thương, Nguyễn Quỳnh Mai

Viện Y học lao động và vệ sinh môi trư­ờng

 

 

Mục đích của nghiên cứu này nhằm bước đầu đánh giá thực trạng vi khuẩn và nấm trong không khí ở một pḥng thí nghiệm. Các tác giả đă phân tích mức độ tập trung và phân tán của vi sinh trong không khí. Nồng độ vi khuẩn và nấm trong không khí được phân tích bằng phương pháp Koch trong thời gian mùa đông và mùa hè tại văn pḥng của Pḥng thí nghiệm Vi sinh. Thạch dinh dưỡng để nuôi cấy tổng số vi khuẩn không khí, thạch máu để nuôi cấy cầu khuẩn tan máu và thạch Sabouraud nuôi cấy nấm. Các mẫu nuôi vi khuẩn được ủ ở tủ ấm 370C trong 2 ngày c̣n nấm ở 250C trong 7 ngày.
Kết quả cho thấy nồng độ vi sinh không khí trong nhà: Tổng số vi khuẩn hiếu khí (TSHK): (1.559  ±  30 vi khuẩn/1 m3 không khí); cầu khuẩn tan máu (CKTM) 23,65  ±  60 vi khuẩn/1 m3 không khí); tổng số nấm (TSN): (994,37  ±  11 nấm/1 m3 không khí) thấp hơn không khí ngoài trời (tương ứng: (5.058,87  ±  83 vk/1 m3 kk; 53,90  ±  13 vk/1 m3 kk; 2.370  ±  42 N/1 m3 kk). Nồng độ vi sinh không khí PTN về mùa hè: TSHK: (513,25 ± 12 vk/1 m3 kk; CKTM: 46,05 ± 11 vk/1 m3 kk) và mùa đông (tương ứng 2.606,40  ±  488 vk/1 m3 kk, 1,25 ± 10 vk/1 m3 kk  nằm trong giới hạn sạch; nồng độ nấm về mùa hè: (462,90 ± 48 vk/1 m3 kk) nằm trong giới hạn sạch, nhưng về mùa đông: (1.525,85 ± 15 nấm/1 m3 kk) cao hơn giới hạn sạch. Về mùa đông nồng độ TSHK (2.606  ±  48 vk/1 m3 kk) và TSN (1.525,85  ±  15 nấm/1 m3 kk) cao hơn về mùa hè (tương ứng: 513,25 ± 12 vk/1 m3 kk; 462,90 ± 48 nấm/1 m3 kk).
Các tác giả kiến nghị cần phải có tiêu chuẩn chất lượng vi sinh vật trong không khí ở Việt Nam.

 

 

Bước đầu đánh giá chất lượng vi sinh trong nước thải bệnh viện và hiệu quả xử lư hiện hành

của các loại công nghệ xử lư nước thải bệnh viện 

 

Nguyễn Khắc Hải, Từ Hải Bằng, Nguyễn Thái Hiệp Nhi,

Đàm Thương Thương, Nguyễn Quỳnh Mai.

Viện Y Học lao động và Vệ sinh môi trường

  

Đề tài tiến hành nhằm bước đầu đánh giá chất lượng vi sinh trong nước thải bệnh viện và hiệu quả xử lư của các nhóm công nghệ xử lư nước thải bệnh viện. Các mẫu nước thải bệnh viện được lấy tại đầu vào và đầu ra của 29 hệ thống xử lư nước thải tại 28 bệnh viện và được phân tích theo thường qui kỹ thuật của viện YHLĐ & VSMT. Số liệu được xử lư trên chương tŕnh SPSS.
Kết quả thu được như sau: Nồng độ vi sinh vật trong nước thải bệnh viện rất cao: Tổng số hiếu khí (11 x 109 KL/1 ml), Cl.perfringen (11.000 KL/10 ml), coliform (19 x 107 MPN/100 ml), Fecal coliform (18 x 107 MPN/100 ml), trứng giun sán (71 trứng/1000 ml); tổng số coliform trước xử lư cao hơn 19.000 lần tiêu chuẩn vệ sinh cho phép thải ra môi trường. Phân lập được nhiều loại vi khuẩn gây bệnh trong nước thải bệnh viện, đặc biệt tỷ lệ phân lập được tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus) cao nhất (86,2 %  tổng số mẫu). Hiệu quả xử lư nước thải bệnh viện của công nghệ Hợp khối (bể xử lư aeroten có đệm sinh học) là cao nhất, tổng số coliform ở đầu ra (8333 MPN/100 ml) nằm trong giới hạn vệ sinh cho phép thải ra môi trường.
Các tác giả kiến nghị việc xây dựng tiêu chuẩn chất lượng vi sinh nước thải bệnh viện là điều rất cần thiết trong điều kiện hiện nay.

  

Thực trạng vệ sinh môi trường và chất lượng nguồn nước ăn uống và sinh hoạt tại 3 xă ngoại thành Hải Pḥng 

 

Nguyễn Tất Hà, Bùi Văn Trường, Nguyễn Văn Ḥa*

Đồng Trung Kiên, Lê Thị Song Hương**

* Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường

** Trung tâm Y tế dự pḥng Hải Pḥng 

 

Nghiên cứu cắt ngang mô tả t́nh h́nh vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch của 600 hộ gia đ́nh taị 3 xă ngoại thành Hải Pḥng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Nguồn nước các hộ gia đ́nh sử dụng cho ăn uống chủ yếu là nước mưa (87 %); nước giếng khoan (38,5 %), giếng khơi (16 %); 1,6 %  sử dụng nước bề mặt. Kết quả xét nghiệm cho thấy, 100 %  mẫu nước giếng khơi và nước bề mặt nhiễm Coliform và Fecal coliform.
Tỷ lệ hố xí hai ngăn là 18,5 %, một ngăn: 45 %, hố xí thùng, đào, cầu: 15,9 %. Tuy nhiên, tỷ lệ hố xí đạt tiêu chuẩn vệ sinh không cao: Hai ngăn 39,81 %; một ngăn 6,84 %; thùng, đào, cầu 3,22 %.
90 %  số hộ có chuồng gia súc nhưng đạt vệ sinh chỉ có 4,6 %.
Nhu cầu sử dụng phân trong sản xuất nông nghiệp chiếm 98,17 %  số hộ gia đ́nh, 72,83 %  số hộ không ủ phân đúng cách. Số hộ gia đ́nh không sử dụng thuốc trừ sâu trong sản xuất nông nghiệp chỉ có 17,5 %.
Số hộ gia đ́nh được đánh giá không bị ô nhiễm chiếm 34,5 %  tổng số hộ điều tra.

 

 

Đánh giá hiện trạng chất lượng nước thải về vệ sinh hoá lư của một số cơ sở sản xuất bia tại Hà Nội.

Thử đề xuất một số biện pháp bảo vệ môi trường

 

Lê Thái Hà, Trần Quang Toàn,

Vơ Thị Minh Anh, Nguyễn Thị Bảo ái

Viện YHLĐ & VSMT

 

Đề tài khảo sát quy tŕnh công nghệ, hiện trạng chất lượng nước thải về các chỉ tiêu hoá lư của Công ty bia Hà nội, công ty Bia Đông Nam á và cơ sở sản xuất 254 Minh Khai.
Các kết quả cho thấy cả 3 cơ sở sản xuất (CSSX) bia được khảo sát đều có công suất cao, công nghệ sản xuất hiện đại của các nước tiên tiến. Đặc điểm của công nghệ sản xuất bia là sử dụng lượng lớn nước (80 – 90 %  thành phần của bia là nước) đồng thời cũng thải ra lượng nước thải lớn. Cả 3 đơn vị sản xuất bia được khảo sát đều có hàm lượng các chất gây ô nhiễm chính trong nước thải (BOD5, COD, SS, và H2S) không đạt TCCP và đều thải ra mương thoát nước chung của thành phố.
Các tác giả đề xuất một số biện pháp t́nh thế:  Phân luồng các ḍng thải để có biện pháp xử lư cục bộ. Giảm lượng nước cấp sản xuất xuống mức thấp nhất. Các cơ quan có chức năng cần thường xuyên giám sát, kiểm tra và chỉ cho phép nước thải đạt TCVN 5945 - 1995 - cột B thải vào hệ thống nước thải Thành phố.

  

Xác định hàm lượng hợp chất trừ sâu hữu cơ Clo bằng sắc kư khí mao quản với detector ECD 

 

Lê Thái Hà

Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường

Prof. W. Engewald

Viện Hoá phân tích, Trường ĐHTH Leipzig, CHLB Đức

 

    Các tác giả đă ứng dụng phương pháp sắc kư khí, thử nghiệm và đă lựa chọn được các điều kiện thích hợp nhất để phân tích đồng thời hỗn hợp của 18 hợp chất trừ sâu hữu cơ Clo. Mẫu nước phân tích sau khi được chiết với dung môi n - hexan được phân tích trực tiếp bằng GC.

             Phương pháp có độ chính xác cao, giới hạn phát hiện là phần tỷ (ppb), sử dụng lượng mẫu nhỏ, rất hiệu quả trong việc phân tích hợp chất trừ sâu hữu cơ Clo có nồng độ nhỏ trong mẫu nước.

 

 

T́nh h́nh khám chữa bệnh của trạm y tế xă một huyện đồng bằng Bắc Bộ 

 

Phùng văn Hoàn, Chu Khắc Tân

Đại học Y Hà nội

 

Nghiên cứu điều tra cắt ngang kết hợp hồi cứu có sẵn trên 222 hộ gia đ́nh của xă Đức Giang và Đức Thượng – Hoài Đức đă được tiến hành với mục tiêu điều tra nhân lực y tế và t́nh h́nh khám chữa bệnh qua các tỷ lệ bệnh nhân được khám và điều trị các bệnh thông thường tại huyện Hoài Đức –Hà Tây
Kết quả nghiên cứu cho thấy cán bộ y tế (CBYT) có tŕnh độ văn hoá chung khá cao: 70 %  từ cấp 3 trở lên. CBYT chủ yếu là y sỹ: 45 %  và y tá: 50 %. Tuy nhiên không có nữ hộ sinh là một hạn chế đáng lưu ư về mặt nhân lực. Chỉ có 30 %  số người được điều tra đến khám chữa bệnh tại trạm y tế xă; 31 %  đến khám chữa bệnh tại dịch vụ y tế tư nhân; 9,43 %  tự điều trị; 18,8 %  khám chữa bệnh vượt tuyến. Có sự chênh lệch đáng kể giữa tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ được khám chữa bệnh tại trạm y tế xă: bệnh tiêu chảy (0,64 %  so với 0,06 %); bệnh hô hấp (6,92 %  so với 0,06 %); bệnh tiêu hoá (0,56 %  so với 0,02 %) với p < 0,05; bệnh tiêu hoá măn tính (0,93 %  so với 0,02 %); bệnh tim mạch (0,74 %  so với 0,006 %) với p <  0,05.
Các tác giả kiến nghị cần tăng cường nhân lực cho y tế cơ sở đặc biệt là nữ hộ sinh. Cần tăng cường kiến thức chuyên môn cũng như trang bị kỹ thuật để thu hút bệnh nhân đến khám chữa bệnh tại trạm xá xă.

 

 

Bước đầu đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành của phụ nữ có con dưới 5 tuổi về bệnh tiêu chảy

và bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của trẻ em tại huyện Sóc Sơn - Hà Nội 

 

Nguyễn văn Hoà, Lê Đ́nh Minh

Viện Y học lao động và vệ sinh môi trường

  

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, phỏng vấn 210 bà mẹ có con  < 5 tuổi đă được các tác giả tiến hành nhằm đánh giá hành vi, kiến thức và thái độ thực hành của phụ nữ có con  < 5 tuổi về bệnh tiêu chảy (BTC) và nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) tại Sóc Sơn –Hà Nội.
Kết quả cho thấy 67,8 %  bà mẹ có nghe nói về viêm phổi trẻ em (VPTE); 55,8 %  bà mẹ nhớ đủ 3 dấu hiệu của VPTE; 37,7 %  bà mẹ tự dùng kháng sinh khi trẻ ho, không sốt; 52,4 %  bà mẹ tự dùng kháng sinh khi trẻ ho sốt; 76,8 %  bà mẹ biết gói Oresol trong đó 78,3 %  bà mẹ biết pha đúng. Khi trẻ bị tiêu chảy, 97,8 % bà mẹ vẫn cho bú, 51,15 bà mẹ cho uống Oresol, 12 %  bà mẹ không cho uống, 76,1 %  bà mẹ cho ăn như b́nh thường. Tỷ lệ bà mẹ nhớ được 6 - 8 bệnh được tiêm chủng là 78,1 %. Trong 3 vùng sinh thái, vùng g̣ đồi là vùng c̣n nhiều điểm yếu về kiến thức và thái độ thực hành của bà mẹ.
Các tác giả đưa ra kiến nghị cần tổ chức đều đặn các lớp tập huấn chuyên môn, năng cao kiến thức của nhân viên y tế. Việc nhân rộng hoạt động thảo luận nhóm các bà mẹ về kiến thức đối với BTC và NKHHCT sẽ góp phần để chương tŕnh được xă hội hoá với sự tham gia của các cấp chính quyền, đoàn thể.

  

Đánh giá chất lượng nước bể bơi Hải Pḥng từ năm 2000 đến năm 2003 

 

Lê Thị Song Hương, Nguyễn Tuyết Lan, Phùng Anh Hoa,

Đỗ Thị Lê và cộng sự

Trung tâm Y tế dự pḥng Hải Pḥng

 

             Trong số 18 bể bơi có 12 bể đă có hệ thống lọc nước tuần hoàn. Có 15 bể bơi sử dụng nước máy và 3 bể bơi sử dụng nước giếng khoan.

Hiện nay có hai nguồn nước được sử dụng để cấp nước vào bể bơi là nước máy và nước giếng khoan. Trong số 18 bể hiện đang kinh doanh chỉ có 3 bể bơi sử dụng nước giếng khoan (chiếm tỷ lệ 16,66 %).
Tỷ lệ mẫu nước máy có các chỉ tiêu hoá học đạt tiêu chuẩn cao hơn nhiều so với các mẫu nước giếng khoan. Có 92,1 %  mẫu nước máy đạt tiêu chuẩn về độ đục trong khi chỉ có 50 %  mẫu nước giếng khoan đạt tiêu chuẩn về chỉ tiêu này. Có 100 %  mẫu nước máy đạt tiêu chuẩn về độ cứng trong khi ở các mẫu nước giếng khoan chỉ có 64,28 %.
100 %  mẫu nước bể bơi có chỉ tiêu sắt và NO3 đạt tiêu chuẩn cho phép. Tỷ lệ mẫu đạt tiêu chuẩn về các chỉ tiêu hoá học như độ đục, pH, Nitrit, Amoni, độ cứng khá cao (từ 76 %  đến 95 %). Số mẫu có chỉ tiêu Clo dư đạt tiêu chuẩn cho phép thấp (15,5 %) chứng tỏ tại các bể bơi hiệu quả khử trùng không cao. Một số bể chưa kiểm soát được pH của nước bể bơi.
Năm 2003 tỷ lệ mẫu có các chỉ tiêu hoá học đạt tiêu chuẩn cho phép cao nhất trong các năm từ 2000 đến 2003. Tỷ lệ mẫu có độ đục đạt tiêu chuẩn trong năm 2003 là 100 %  trong khi năm 2002 là 82,8 %, năm 2001 là 82,4 %, năm 2000 là 85,7 %.
Tỷ lệ mẫu nước giếng khoan đạt tiêu chuẩn vi sinh là 57,14  %  thấp hơn so với nước máy (73,68 %)

 

  

Đánh giá hiệu quả của chương tŕnh tăng cường vệ sinh và cung cấp nước sạch tại nội thành Hải Pḥng 

 

Lê Thị Song Hương và cộng sự

Trung tâm Y tế dự pḥng Hải Pḥng

 

Điều tra hồi cứu t́nh h́nh sức khỏe và bệnh tật của nhân dân 3 quận nội thành Hải Pḥng để đánh giá hiệu quả của cung cấp nước sạch sử dụng trong sinh hoạt tại Hải Pḥng đă góp phần khống chế và làm giảm tỷ lệ mắc một số bệnh lây truyền qua nước.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các bệnh thương hàn, viêm gan A, sốt rét, sốt xuất huyết, bệnh mắt có tỷ lệ mắc thấp; các bệnh tiêu chảy, lỵ, giun sán có tỷ lệ mắc cao nhưng đều có xu hướng giảm dần từ 1997 đến 2002: Tỷ lệ mắc tiêu chảy trên 100.000 dân năm 1997 là 539,1 giảm dần tới năm 2002 chỉ c̣n 279,5; tỷ lệ mắc lỵ năm 1998 là 125,1 giảm xuống c̣n 63,7 năm 2002; tỷ lệ mắc thương hàn rất thấp năm 1997 là 2,0 đến năm 2002 giảm xuống 0,2; tỷ lệ mắc giun sán năm 1998 là 199,1 năm 2002 giảm xuống 130,1.
Tỷ lệ mắc sốt xuất huyết và sốt rét trên 100.000 dân tại nội thành Hải Pḥng qua các năm tỷ lệ mắc đều giảm, so với cả nước thấp hơn từ 7 đến 49 lần và chỉ là những ca tản phát.
Các bệnh phụ khoa (viêm âm đạo, viêm cổ tử cung), bệnh da (viêm da, nấm da, ghẻ) tỷ lệ mắc có chiều hướng tăng lên ở 3 quận nội thành: Tỷ lệ mắc viêm âm đạo cao nhất là năm 1999 (747,4/100.000 dân); tỷ lệ mắc viêm cổ tử cung cao nhất vào năm 2002 (121,8/100.000 dân).
Tỷ lệ mắc các bệnh cao nhất ở nhóm £ 10 tuổi (23,5 %) và thấp nhất ở nhóm  >  60 tuổi (7,5 %).

 

Đánh giá t́nh h́nh vệ sinh môi trường và các bệnh lây truyền qua nước tại nội thành Hải Pḥng năm 2003

 

Lê Thị Song Hương và cộng sự

Trung tâm Y tế dự pḥng Hải Pḥng

 

Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành nhằm đánh giá t́nh h́nh bệnh tật, cấp nước sạch và môi trường sống của hơn 1500 hộ gia đ́nh tại 6 phường thuộc 3 quận nội thành Hải Pḥng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ số hộ được cấp nước đạt tiêu chuẩn vệ sinh đạt 100 %, được sử dụng hố xí tự hoại đạt tiêu chuẩn vệ sinh đạt 96,4 %, được thu gom rác thải sinh hoạt đúng qui định đạt 94,8 %, số hộ không bị ô nhiễm môi trường đạt 59 %  trên tổng số hộ điều tra. Trong ṿng 2 tuần trước thời điểm điều tra, các bệnh liên quan đến nước và vệ sinh môi trường phổ biến tại 3 quận là: Tiêu chảy (13,8 %), viêm âm đạo (5,7 %), nấm da (2,7 %), đau mắt đỏ (3,3 %), mắt hột (2,5 %), ghẻ (1,8 %). Các bệnh như lỵ, thương hàn, viêm gan A, sốt rét, sốt xuất huyết, viêm loét cổ tử cung chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong cộng đồng dân cư. Sự khác biệt về số mắc bệnh giữa 3 quận Hồng Bàng, Ngô Quyền, Lê Chân không nhiều. Nhận thức của người dân về các bệnh liên quan tới nước và vệ sinh môi trường c̣n nhiều hạn chế: 52,4 %  dân chúng biết ảnh hưởng của nước và vệ sinh môi trường tới nguy cơ mắc bệnh tả; 36,2 %  số người biết phân tươi chứa nhiều mầm bệnh nguy hiểm; trên 50 %  dân chúng không biết sự liên quan giữa nước và vệ sinh môi trường, vệ sinh cá nhân trong lan truyền các bệnh đường ruột khác và các bệnh về mắt, da, phụ khoa.

  

 

Thực trạng t́nh h́nh vệ sinh môi trường ngành y tế thành phố Hải Pḥng 

 

Dương Thị Hương, Đồng Trung Kiên và cs.

Trung tâm Y tế dự pḥng Hải Pḥng

  

Điều tra đánh giá t́nh h́nh vệ sinh môi trường tại 11 cơ sở y tế trên địa bàn thành phố Hải Pḥng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết tại các cơ sở y tế trong kiến trúc xây dựng ban đầu chưa chú trọng tới việc xây dựng hệ thống xử lư nước thải và khu vực tập trung xử lư rác thải. 100% cơ sở đều xây dựng gần khu dân cư, có tường rào riêng biệt; 75% cơ sở có diện tích chật hẹp < 100m2; 50% cơ sở dành phần lớn diện tích khu đất dùng cho xây dựng; 62,5% cơ sở tỷ lệ diện tích cây xanh/diện tích khu đất là dưới 25%. Tỷ lệ sử dụng giường bệnh thấp ở bệnh viện hạng III (< 50%) nhưng quá tải ở bệnh viện hạng I và II (> 100%).
87,5% cơ sở y tế thực hiện tốt việc phân loại kim tiêm và ngâm dung dịch javen ngay tại bàn tiêm. 100% cơ sở chưa được trang bị các túi, hộp chứa chuyên dùng phục vụ việc phân loại rác lâm sàng mà chỉ dùng túi nhựa sinh hoạt để chứa đựng rác đă phân loại; việc cung cấp túi cũng không đủ và thường xuyên. Rác đă phân loại tập trung cùng rác sinh hoạt tại ga rác chung của đơn vị, không có xử lư riêng.
12,5% cơ sở có sử dụng phóng xạ trong điều trị như Coban 60, Iod 131 nhưng chưa có kiểm tra về thời gian bán ră, chưa có hệ thống xử lư chất thải lỏng sau khi điều trị phóng xạ và hóa chất dư. 100% cơ sở y tế chưa thực hiện khám sức khỏe và quản lư hồ sơ, theo dơi bệnh nghề nghiệp cho nhân viên.
Lượng nước thải tại các Bệnh viện dao động từ 40 – 200 m3/ngày. 25% bệnh viện có khu xử lư nước thải đă cũ, vận hành không thực hiện được hết các qui tŕnh, chỉ c̣n thực hiện bơm nước từ ga nước thải ra đường cống thải chung không có xử lư khử trùng. 25% bệnh viện đang xây dựng và đă hoàn thiện hệ thống xử lư nước thải; 50% bệnh viện c̣n lại chưa có hệ thống xử lư nước thải. 100% bệnh viện chưa tổ chức đánh giá mức độ nhiễm bẩn của nước thải trước khi thải ra cống thoát chung của thành phố.

 

 

  Điều tra thái độ của cộng đồng với sự cảm nhận mùi

ở một thành phố công nghiệp, Bắc Ấn Độ 

 

S.Mudgal

Occupational & Environmental Health Services, India

e - mail: oehs@vsnl.com & info@oehsindia.com

Web: www.oehsindia.com

  

Điều tra thái độ của cộng đồng trong một thành phố công nghiệp ở miền Bắc Ấn Độ được tiến hành để giải quyết một số lớn lời phàn nàn của cộng đồng về vấn đề mùi bốc lên từ nguồn công nghiệp. Mục tiêu của nghiên cứu là xem xét thái độ của cộng đồng trong cảm nhận mùi để đề xuất những giải pháp chống mùi ở những khu vực thích hợp theo sự quan tâm của cộng đồng. Đối tượng nghiên cứu được chia ra làm khu vực bệnh và khu vực chứng. Hai vùng nằm kề khu công nghiệp lớn là khu vực bệnh và một làng cách khu công nghiệp 3 km là khu vực chứng. Dùng bảng câu hỏi thiết kế cho mục đích điều tra để xác định thái độ cộng đồng đối với vấn đề mùi. Các câu trả lời của một số câu hỏi được phân tích về ư nghĩa, sử dụng các phương pháp thống kê thích hợp. Cỡ mẫu toàn thể là 214 đối tượng cho cả hai khu vực bệnh - chứng được nghiên cứu. Điều tra được thực hiện bởi các nhân viên được đào tạo và điều tra lưu động.
Sự ô nhiễm nước là do ứ đọng nước trong các cống rănh mương máng và là vấn đề môi trường phổ biến nhất ở cả hai khu vực nghiên cứu và chứng. 50,8 %  cộng đồng khu vực bệnh cảm nhận mùi ở gần khu công nghiệp là nguyên nhân chính, so với 48,9 %  ở khu vực chứng. Ngoài công nghiệp, sự ứ đọng nước ở cống rănh được báo cáo là 25 %  đối tượng bệnh so với 31,1 %  ở khu vực chứng là nguồn của vấn đề mùi. 81,8 %  câu trả lời ở khu vực bệnh cho thấy nguồn của mùi đến từ liên hợp công nghiệp hoá chất rộng lớn so với 61,9 %  từ khu vực chứng. Sự cảm nhận mùi từ cả hai đối tượng bệnh (87,5 %) và chứng (83 %) có tác hại đến sức khoẻ của họ.
Cuộc điều tra dẫn tới việc ứng dụng các biện pháp làm giảm và xử lư mùi, như làm vệ sinh vét ḷng cống rănh, xử lư mùi, ở công nghiệp cũng như trong cộng đồng.

 

Mô h́nh dựa vào cộng đồng để giảm thiểu nguy cơ nhiễm độc thuốc bảo vệ thực vật ở các vùng nông nghiệp 

 

Bùi Thanh Tâm*, Nguyễn Lệ Ngân*, Lê Thị Thanh Hương*, Nguyễn Ngọc Bích*, Nguyễn Hữu Thắng*, Lă Ngọc Quang*, Nguyễn Văn Quang**, Dương Kim Chung**, Trân Quang Lộ***, Lưu Văn Học***

*Trường Đại học Y tế Công cộng, **Trung Tâm Y Tế Chí Linh, Hải Dương

*** Trung Tâm Y Tế Thanh Oai, Hà Tây 

 

Nghiên cứu được tiến hành trong 2 năm (5/2000 – 5/2002) tại xă  An Lạc, Chí Linh, Hải Dương và xă Xuân Dương, Thanh Oai, Hà Tây là những xă nông nghiệp, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (TBVTV), các trường hợp nhiễm độc và tử vong do TBVTV xảy ra thường xuyên hàng năm. Mô h́nh can thiệp dựa trên nguyên tắc phối hợp liên ngành và sự tham gia của tất cả các thành viên  trong cộng đồng dưới sự chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân (UBND) xă và trung tâm y tế (TTYT) huyện. Trọng tâm của các hoạt động gồm: Đẩy mạnh giáo dục truyền thông về TBVTV, hướng dẫn  các hộ gia đ́nh sử dụng TBVTV đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng thời gian, thực hiện an toàn lao động và vệ sinh môi trường (VSMT) trong sử dụng TBVTV, tăng cường kiểm tra giám sát liên ngành tại địa phương về cung cấp và sử dụng TBVTV.
Sau 2 năm nghiên cứu, tại cộng đồng đă h́nh thành được một bộ máy tổ chức về sử dụng an toàn TBVTV và VSMT, nhận thức, thái độ và thực hành của người dân, đặc biệt là các em học sinh được nâng cao, năng lực pḥng chống nhiễm độc TBVTV của  trạm y tế xă (TYTX) được tăng cường. Trong 2 năm ở 2 xă can thiệp không xảy ra tử vong do TBVTV, các trường hợp nhiễm độc TBVTV giảm rơ rệt và được Trung tâm Y tế xă cứu chữa kịp thời. Mô h́nh can thiệp được địa phương đánh giá cao, có tính khả năng khả thi, vững bền, không đ̣i hỏi chi phí cao.

 

 

Chất lượng một số nguồn nước ở Tây Nguyên 

 

Nguyễn Xuân Tâm, Đặng Tuấn Đạt, Phạm Thị Tuyết Mai,

Vũ Đ́nh Chiêm và cộng sự

Viện Vệ sinh dịch tễ Tây nguyên

  

Để góp phần t́m hiểu, đánh giá chất lượng một số nguồn nước ở khu vực Tây Nguyên, Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên tiến hành điều tra từ năm 1999 đến 2003 chất lượng nước của một số nguồn nước như các nhà máy nước, nước giếng khoan, nước giếng khoan tay, nước bề mặt thuộc tỉnh Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng qua phân tích các chỉ tiêu về vi sinh vật và hoá lư.
Kết quả cho thấy nước giếng và nước bề mặt đều nhiễm E.Coli. Tỷ lệ mẫu không đạt tiêu chuẩn cho phép về hoá học là 50,43 %  nước giếng đào, 28,27 %  nước giếng khoan, 85,38 %  nước bề mặt, 26,51 %  nước máy.
Các tác giả đề nghị tiếp tục giám sát thường xuyên các nguồn nước trong khu vực; quản lư tốt các chất thải của người và gia súc.

 

  

Nghiên cứu t́nh h́nh quản lư và xử lư chất thải y tế tại bện viện đa khoa tỉnh Hà Tĩnh 

 

Lại Vĩnh Thủy, Lê Khắc Đức, Nguyễn Thị Dư Loan

Học Viện Quân Y

  

Nghiên cứu được tiến hành điều tra t́nh h́nh quản lư và xử lư rác thải y tế tại Bệnh viện Đa khoa Hà Tĩnh.
Kết quả nghiên cứu cho thấy bộ phận trực tiếp tham gia quản lư chất thải gồm 60 người chiếm 9,86 %  tổng số cán bộ công nhân trong bệnh viện. Tŕnh độ hiểu biết của cán bộ y tế về chất thải bệnh viện c̣n nhiều hạn chế: Chỉ có 80 %  số người được hướng dẫn thực hiện qui chế quản lư chất thải và chỉ có 20 %  số người biết phân loại đúng chất thải y tế. Số c̣n lại hiểu biết không đầy đủ. Về tác hại của các chất thải y tế, đại đa số chỉ hiểu biêt chung chung là có tác hại (80 %), chỉ có 10 %  số nhân viên y tế là hiểu biết một cách đầy đủ tác hại của chất thải y tế. Có 52 %  số nhân viên y tế không hiểu biết ǵ về vấn đề xử lư chất thải bệnh viện, 42 %  hiểu biết không đầy đủ và chỉ có 6 %  số người hiểu biết được đầy đủ các biện pháp xử lư.
Về h́nh thức xử lư rác thải bệnh viện: Đối với chất thải rắn việc thu gom hoàn toàn bằng thủ công, xách tay hoặc xe đẩy ra hố đổ rác. Hố đổ rác không đúng quy cách (không có đáy, không có ṛa chắn, gần khu dân cư và khoa pḥng). Cứ 3 - 4 ngày được đổ dầu vào đốt rác, rác cháy không hết, gây ô nhiễm môi trường không khí, một số chất khí thải vượt tiêu chuẩn cho phép. Đối với nước thải, nước được thu gom về bể chứa và chỉ được xử lư bằng nước Javen trước khi thải ra môi trường xung quanh.

  

Nghiên cứu hiệu quả xử lư nước thải thành phố của các ao nuôi cá bằng nước thải tại Thanh Tŕ, Hà Nội 

 

Trần Quang Toàn và cộng sự

Viện Y học lao động và vệ sinh môi trường 

 

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả xử lư nước thải thành phố của các ao nuôi cá bằng nước thải qua phân tích một số chỉ số vệ sinh về vi sinh, trứng giun và một số chỉ số ô nhiễm về hóa học. Hai ao cá chuyên nuôi cá bằng nước thải thành phố lấy từ sông Kim Ngưu với diện tích 17 ha và 3 ha đă được chọn làm đối tượng nghiên cứu. Tại cửa nước vào và cửa nước ra, các mẫu đă được lấy tại các thời điểm khác nhau trong ngày, từ 8 giờ sáng đến 8 giờ tối bằng kỹ thuật lấy mẫu đơn và mẫu trộn. Mẫu nước được lấy và phân tích 2 lần trong tháng đối với mỗi ao cá và được thực hiện liên tục trong 3 tháng của mùa mưa và mùa khô.
Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả xử lư nước thải của các ao nuôi cá là khá cao qua việc làm giảm đáng kể các chất ô nhiễm trong nước thải sau 1 tuần lưu tại các ao cá. Đối với chất rắn lơ lửng, tỷ lệ giảm là 40 %  - 47 %, COD là 46 %  - 48 %, BOD5 là 58 %  - 61 %, Nitơ tổng số là 66 %  - 81 %, phốt pho tổng số là 37 %  - 56 %, Amoniac là 86 %  - 96 %, Coliform chịu nhiệt là 99,53 %  - 99,34 %, Enterococci là 95,18 %  - 97,70 %, tổng số vi khuẩn là 96,91 %  - 99,15 %  và trứng giun là 96,77 %  - 100 %.
Bên cạnh việc đem lại lợi ích kinh tế do tận dụng nước thải nuôi cá và tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương, các ao cá đă góp phần đáng kể trong việc sử lư nước thải, tái sử dụng để tưói tiêu và bảo vệ nguồn nước bề mặt. Tuy nhiên, nguy cơ về vệ sinh môi trường và sức khỏe cộng đồng cũng như vệ sinh an toàn thực phẩm khi tiêu thụ các sản phẩm được nuôi trồng theo phương thức này cũng cần được quan tâm và có những nghiên cứu sâu hơn. 

 

Nghiên cứu hiện trạng vệ sinh môi trường và nguồn nước sông Hương tại thành phố Huế 

 

Hoàng Hà Tư, Nguyễn Đ́nh Sơn,Trần Danh Lộc, Trần Bá Thanh

Trung tâm Y tế dự pḥng Thừa Thiên – Huế

 

            Nghiên cứu điều tra cắt ngang trên 1800 hộ gia đ́nh sống ven sông và trên thuyền đă được tiến hành nhằm đánh giá điều kiện vệ sinh môi trường và tính chất nguồn nước sông Hương. Mẫu nước được lấy định kỳ hàng tháng và phân tích theo các chỉ tiêu pH, Chlorine, Nitrite, Sulfate, Oxidization, Chloride, BOD5, Iron, Total Coliform, Fecal Coliform and Clostridium Perfringens để đánh giá chất lượng vệ sinh theo tiêu chuẩn Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu cho thấy 45,6 %  hộ gia đ́nh có nhà tiêu nhưng hơn 50 %  không hợp vệ sinh.35,7 %  hộ gia đ́nh đi vệ sinh xuống sông, 13,6 %  đi tại đồng, băi. 82 %  hộ gia đ́nh điều tra dùng nước máy. Chất lượng nước máy khá tốt, trong tháng 7 có hiện tượng nhiễm mặn. Nước bề mặt và nước thải bị ô nhiễm chất hữu cơ cao, tổng lượng muối tăng rất cao vào mùa hè, BOD và các chỉ điểm vi sinh đều tăng cao vào mùa hè, có nơi tăng rất cao.
Các tác giả kiến nghị cần có biện pháp tuyên truyền giáo dục cho các hộ dân, đồng thời có các giải pháp kỹ thuật thích hợp để hạn chế các chất thải và các chất độc hại xuống sông. Bên cạnh đó cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nước, vệ sinh môi trường trong các cơ sở sản xuất. 

 

Nghiên cứu mối quan hệ giữa liều độc –thời gian –hiệu quả và tác dụng của thuốc trừ sâu trong môi trường không khí, đất và nước 

 

Trần Văn Tùng, Ngô Tiến Dũng

Học viện quân y

 

             Nghiên cứu tiến hành nhằm xác định mối quan hệ giữa liều độc - thời gian – hiệu quả và tác dụng của 04 loại hoá chất trừ sâu (Wofatox, Bassa, Padan, Decis) trên kiến, cá thái hà, giun nước, bọ gậy, ruồi, muỗi trong môi trường không khí, đất và nước. Các tác giả đă sử dụng phương pháp biểu thị độc tính qua đường cong Treval, xác định LD50 và quan sát, mô tả hành vi của các sinh vật bị nhiễm độc.

Kết quả nghiên cứu đă xác định được mối liên quan giữa nồng độ của các hoá chất trừ sâu (0,02 - 102,4  mg/l) và tỷ lệ chết của các loài sinh vật nhỏ. Nghiên cứu cũng đă xác định được LD 50 của các hoá chất nghiên cứu trên các loài sinh vật nhỏ trong môi trường khác nhau và h́nh ảnh nhiễm độc đặc trưng của từng loại sinh vật nhỏ.
Nghiên cứu kết luận có thể dựa vào kết quả xác định LD50 của các hoá chất nghiên cứu và mức độ nhiễm độc hành vi của các sinh vật để định tính sơ bộ mức độ ô nhiễm của môi trường.