SỨC KHỎE TRƯỜNG HỌC

 

Thực trạng vẹo cột sống và yếu tố nguy cơ ở học sinh tiểu học và trung học cơ sở Hải Pḥng 

 

Nguyễn Hữu Chỉnh, Vũ Văn Tuư, Thái Lan Anh,

Nguyễn Thanh B́nh và cộng sự

Trung tâm Y tế Hải Pḥng

  

Để t́m hiểu nguy cơ vẹo cột sống ở học sinh tiểu học, Trung tâm Y tế Hải Pḥng đă tiến hành một nghiên cứu cắt ngang và nghiên cứu bệnh chứng với 8.101 học sinh tiểu học và trung học cơ sở của Hải Pḥng (chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng). Trong nghiên cứu bệnh chứng, nhóm vẹo cột sống (VCS) là 380 em, nhóm chứng được chọn ngẫu nhiên và ghép cặp với nhóm bệnh tương đồng về tuổi, giới, khu vực. Số liệu nghiên cứu được thu thập bằng phương pháp nhân trắc học, thăm khám lâm sàng, phỏng vấn, đo độ xoay cột sống và xử lư trên phần mềm SPSS version 9.01.
Tỷ lệ VCS là 4,72 %; nữ chiếm 5,41 %  cao hơn nam (4,07  %); ngoại thành có tỷ lệ cao nhất (5,99 %); hải đảo thấp hơn (4,76 %) và nội thành là (3,69 %); học sinh tiểu học có tỷ lệ cao nhất.
Tư thế ngồi lệch, đầu cúi thấp, vở ghi để lệch, chênh lệch chiều dài chân là yếu tố nguy cơ gây vẹo cột sống (p < 0,0001).
Nghiên cứu đề nghị: Nâng cao kiến thức cho phụ huynh học sinh, thầy cô giáo, học sinh về yếu tố nguy cơ gây vẹo cột sống, cách phát hiện sớm và pḥng tránh vẹo cột sống. Nên nghiên cứu bài tập phù hợp để điều chỉnh độ lệch này, thử nghiệm và phổ cập bài tập để pḥng chống vẹo cột sống cho học sinh Hải Pḥng.

 

 

T́nh trạng nhiễm giun đường ruột, cân nặng, chiều cao và t́m hiểu các yếu tố liên quan

ở học sinh lớp 1 – 3 tại xă Dũng Tiến, huyện Vĩnh Bảo, Hải Pḥng 

 

Nguyễn Hữu Chỉnh, Thái Lan Anh, Đinh Thanh Mai

Đại học Y Hải Pḥng

 

             Chúng tôi tiến hành một ngiên cứu ngang mô tả vào 5 - 6/2003 ở 372 đối tượng (183 nam, 189 nữ), với mục tiêu khảo sát t́nh trạng nhiễm giun đường ruột, cân nặng, chiều cao và đánh giá một số yếu tố liên quan ở học sinh tiểu học lớp 1 - 3 tại xă Dũng Tiến, huyện Vĩnh Bảo, Hải Pḥng. Thu thập số liệu bằng phương pháp nhân trắc học, phỏng vấn, t́m trứng giun trong phân (phương pháp Kato – Katz). Số liệu được xử lư trên SPSS 9.01, chỉ số dinh dưỡng tính trên EPINUT của EPIINFO 6.04.

Kết quả nghiên cứu cho thấy:
- Tỷ lệ nhiễm giun đường ruột: Nhiễm giun đũa là 55,9 %, cường độ nhiễm là 232,8  ±  4,1 trứng/g phân, nam nhiễm cao hơn nữ (63,4 %; 281,5  ± 3,5 so với 54,7 %; 177,7  ±  5,0 với p  <  0,05); nhiễm giun tóc là 27,1 %, cường độ nhiễm là 46 (34,5 – 92) trứng /g phân. Không có sự khác biệt giữa nam và nữ trong nhiễm 2 loại giun đũa và giun tóc 22,1 %.
- Tŕnh độ văn hoá mẹ thấp, điều kiện sống thấp kém, thói quen đi chân đất, để móng tay dài và bẩn, không tẩy giun định kỳ có liên quan với nhiễm giun đường ruột (p < 0,05).
- Cân nặng và chiều cao của học sinh nam và nữ tăng dần theo tuổi. Tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) nhẹ cân là 34,2 %, thấp c̣i là 29,2 %, nam cao hơn nữ. Gia đ́nh đông người, nhiễm giun đũa và tóc có liên quan với t́nh trạng suy dinh dưỡng (p < 0,05).
V́ vậy nghiên cần tuyên truyền để nâng cao kiến thức cho bà mẹ và học sinh lớp 1 - 2 - 3 về bệnh nhiễm giun đường ruột, cách pḥng chống, giáo giục trẻ phải đi dép thường xuyên, giữ móng tay ngắn và sạch sẽ, nên tẩy giun định kỳ hàng loạt cho học sinh tiểu học.

  

 

Nhận xét về tai nạn chấn thương trong học sinh trung học cơ sở của một số trường ở Ninh B́nh 

 

Trần Văn Dần, Vũ Thị Lâm B́nh

Đại học Y Hà Nội

 

             Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, tai nạn chấn thương trong lứa tuổi học sinh có chiều hướng gia tăng. Điều này đă trở thành mối quan tâm của nhiều quốc gia và tổ chức xă hội. Năm 2001, trường đại học Y Hà Nội đă tiến hành một nghiên cứu mô tả cắt ngang với toàn bộ 1.193 học sinh từ 12 – 13 tuổi của hai trường phổ thông trung học (PTTH) của huyện Yên Mô - Ninh B́nh nhằm mục đích t́m hiểu về t́nh h́nh tai nạn chấn thương, nguyên nhân của tai nạn và đề xuất một số giải pháp can thiệp.

Qua xử lư kết quả phỏng vấn và hồi cứu hồ sơ cho thấy: Nh́n chung học sinh ở nông thôn có tỉ lệ tai nạn chấn thương cao hơn ở thành thị (riêng tỉ lệ tai nạn giao thông th́ ngược lại). Tỉ lệ tai nạn chấn thương ở học sinh nam cao hơn nữ (66,8 %). Tỉ lệ tác nhân gây tai nạn chấn thương do cơ học là cao nhất (71,7 %) và do hoá học là thấp nhất (1,4 %). Loại tai nạn chấn thương ở phần mềm là cao nhất (28,3 %), sau đó là bị găy xương (21,4 %) và tổn thương nội tạng (1,4 %), tai nạn chấn thương chủ yếu xảy ra ở chân (44,8 %) và tay (37,9  %). Nguyên nhân chính gây tai nạn là do sinh hoạt (53,1 %), do giao thông là 18,6 %  và do lao động là 13,8 %. Đặc biệt là có mối liên quan rơ rệt giữa kiến thức của học sinh về tai nạn giao thông với tỉ lệ tai nạn chấn thương.
Qua đây, nhóm nghiên cứu đă đề nghị: Cần phối hợp nhà trường – gia đ́nh – xă hội trong tuyên truyền để pḥng chống tai nạn chấn thương. Nên đưa chương tŕnh giáo dục về pḥng chống tai nạn chấn thương vào hoạt động ngoại khoá của nhà trường. Cần trang bị dụng cụ sơ cứu tai nạn chấn thương đặc biệt là dụng cụ cố định xương và xử lư phần mềm ở chi.

 

 

Đánh giá sự phù hợp của bàn ghế với đặc điểm nhân trắc của học sinh hai trường tiểu học ở Hải Pḥng 

 

Nguyễn Bích Diệp, Nguyễn Ngọc Ngà, Đặng Anh Ngọc và cs.

Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường

 

             Học sinh dành phần lớn thời gian học tập trên ghế nhà trường. Tuy nhiên, rất ít nghiên cứu đánh giá về mức độ phù hợp giữ bàn ghế và đặc điểm nhân trắc học sinh. Nghiên cứu này được tiến hành nhằm xác định mức độ không phù hợp giữa đặc điểm nhân trắc của 240 học sinh và bàn ghế đang sử dụng tại hai trường tiểu học nội và ngoại thành ở thành phố Hải Pḥng bằng các chỉ số không phù hợp như so sánh chiều cao ghế với chiều cao đất - kheo; so sánh sâu ghế với chiều dài mông - kheo, khoảng trống của bàn với chiều cao đất - đầu gối, chiều cao ghế - khuỷu với chiều cao bàn.

Kết quả nghiên cứu cho thấy có nhiều loại bàn ghế được sử dụng ở hai trường. Phần lớn học sinh t́m thấy ghế quá cao và quá sâu hoặc quá nông tuỳ thuộc vào lớp và trường. ở trường ngoại thành, 95 - 100 %  học sinh lớp 1; 85 - 100 %  học sinh lớp 3 và 75 - 100 %  lớp 5 t́m thấy ghế hiện có quá cao và quá nông. ậ trường nội thành, 100 %  học sinh lớp 1, 25 - 55 %  học sinh lớp 3 và 32,5 %  học sinh lớp 5 t́m thấy ghế ngồi quá cao và quá sâu. Hầu hết học sinh không vừa với các bộ bàn ghế hiện có tại trường, ngoại trừ 3 học sinh (chiếm 1,25 %) ở lớp 1 của trường ngoại thành. Tất cả các bộ bàn ghế có khoảng trống đủ để chân.
Cần tiến hành nghiên cứu thêm trên mẫu học sinh tiểu học lớn hơn đại diện cho cả Việt Nam để có những số liệu nhân trắc học sinh và dựa vào số liệu này sẽ đưa ra các kích thước bàn ghế phù hợp với học sinh

 

 

Nghiên cứu một số chỉ tiêu nhân trắc ở học sinh Hai vùng Sapa và Yên B́nh  

 

Lê Thị Kim Dung (1), Trần Văn Tuấn (2), Đào Ngọc Phong(3)

(1) Vụ Giáo dục thể chất, Bộ GD & ĐT; (2) Học Viện Quân Y;

(3) Trường Đại học Y Hà Nội

  

Sapa ở độ cao 1500 m có khí hậu lạnh ẩm quanh năm thuộc vùng núi cao. Yên B́nh ở độ cao 200 m có khí hậu vùng núi thấp lạnh ẩm chủ yếu vào mùa đông. Sự khác nhau này đă ảnh hưởng đến một số chỉ tiêu nhân trắc của trẻ em hai vùng. Nghiên cứu được tiến hành ở 520 trẻ em lứa tuổi 12-15 (cả nam và nữ) ở Sapa và Yên B́nh nhằm đánh giá sự khác biệt về các chỉ số nhân trắc của học sinh ở hai vùng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy một số chỉ số đánh giá nhân trắc của trẻ em ở Sapa cao hơn so với trẻ em Yên B́nh. Cân nặng của trẻ em Sapa (34,38 kg) cao hơn cân nặng của trẻ em Yên B́nh (33,31 kg). Chỉ số IBM của trẻ em Sapa là 17,01, cao hơn của trẻ em Yên B́nh (16,38) với p < 0,05. Chiều cao của trẻ em hai vùng khác biệt không có ư nghĩa thống kê.

 

 

Một số nhận xét bước đầu về sức khoẻ học sinh và điều kiện học tập tại một số trường tại Hải Pḥng 

 

Dương Thị Hương

Trường đại học Y Hải Pḥng

Đồng Trung Kiên

Trung tâm Y tế dự pḥng Hải Pḥng

 

          Ở nước ta hiện nay, việc chăm sóc sức khoẻ và điều kiện học tập của học sinh ngày càng được các cơ quan hữu trách quan tâm hơn. Trường Đại học y Hải Pḥng đă tiến hành một nghiên cứu dịch tễ học mô tả với 2000 học sinh của hai trường tiểu học và hai trường trung học cơ sở của thành phố Hải pḥng.

Kết quả cho thấy: ở nơi nghiên cứu, 100 %  bàn ghế không phù hợp với chiều cao của học sinh, chiếu sáng trong pḥng học yếu, nhất là vào mùa đông: 45 %  mẫu đo đạt tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) (100 - 300 lux); 6,2 %  mẫu đo dưới 50 lux và 33,5 %  mẫu đo trên 300 lux. Diện tích trung b́nh cho 1 học sinh khu vực nội thành thấp (0,91 - 3,3 m2), trong khi khu vực ngoại thành là 13,4 - 14,1m2. Tỉ lệ học sinh được khám có biểu hiện mệt mỏi sau giờ học là 11,6 %  - 33,3 %  (triệu chứng chủ quan). ở ngoại thành, tỉ lệ bệnh tai mũi họng (TMH) ở học sinh tiểu học là 31,3 %  và 47,8 %  ở học sinh tiểu học nội thành. Thị lực hai mắt dưới 11/20: ở học sinh tiểu học là 1,3 %, ở học sinh trung học ngoại thành là 3,1 %; trong khi ở khu vực nội thành là 8 %  và 24,7 %. Tỉ lệ học sinh cận thị tăng theo tuổi, đặc biệt, tăng cao hơn ở khu vực nội thành: 8 %  ở học sinh lớp 1 và 33,8 %  ở học sinh lớp 9; trong khi tỉ lệ này ở học sinh ngoại thành là 0 %  và 4,6 %. Tỉ lệ lệch cột sống (không cấu trúc) có xu hướng tăng lên ở các lớp học trên: 12,7 %  ở học sinh tiểu học và 38,1 %  học sinh trung học khu ngoại thành; khu vực nội thành có tỉ lệ học sinh tiểu học vẹo cột sống là 29,3 %.
V́ vậy nghiên cứu đă rút ra kết luận như sau: Điều kiện và trang bị học tập ở đây chưa phù hợp với tiêu chuẩn vệ sinh và không đáp ứng được yêu cầu phát triển thể lực của học sinh. Cần nghiên cứu vấn đề này sâu hơn để t́m ra giải pháp để cải thiện điều kiện học tập cho học sinh ở đây.

  

Bước đầu t́m hiểu tật cận thị và một số yếu tố ảnh hưởng của học sinh

ở  hai trường tiểu học nội và ngoại thành Hà Nội 

 

Đặng Anh Ngọc & Cs

Viện YHLĐ & VSMT

  

Đề tài nghiên cứu nhằm t́m hiểu thực trạng vệ sinh và thói quen sinh hoạt, học tập và bước đầu phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới tật cận thị ở học sinh. Nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích.
Qua điều tra đánh giá thực trạng điều kiện vệ sinh lớp học tại 2 trường nhận thấy tại thời điểm đo là mùa hè tất cả các vị trí đo cường độ ánh sáng đều đạt tiêu chuẩn chiếu sáng cho phép, nhưng cường độ ánh sáng chưa đồng đều ở các vị trí. Cả 2 trường có kích thước bàn ghế đều không thích hợp với chiều cao học sinh. Tỷ lệ tật cận thị của nhóm học sinh điều tra là 6,96  %, tỷ lệ tật cận thị ở học sinh nội thành (12,58 %) cao hơn ngoại thành (0,37 %), học sinh khối 5 có tỷ lệ tật cận thị cao hơn ở học sinh khối 1.
Qua phân tích thấy một số yếu tố ảnh hưởng tới tật cận thị: Tỷ lệ cận thị cao ở học sinh có cha mẹ bị cận thị, sự không phù hợp của chiều cao bàn ghế, các thói quen sinh hoạt học tập quá lạm dụng thị giác như chơi điện tử. sử dụng vi tính, ít chơi ở môi trường thoáng rộng (ngoài trời).