|
TÂM SINH LƯ VÀ ECGÔNÔMI |
Đánh giá chức năng hô hấp ở công nhân khai thác, chế biến đá B́nh định
Tạ Tuyết B́nh, Phạm Ngọc QuỳViện YHLĐ & VSMT
Đối tượng nghiên cứu gồm 497 công nhân trực tiếp sản xuất trong các công đoạn khai thác, chế biến đá tại B́nh Định. Thiết bị đo: Máy Spiro - Analyser ST – 250 của Nhật. Kỹ thuật đo được thực hiện theo Hội lồng ngực Mỹ (ATS – American Thoracic Society).Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tỷ lệ công nhân có rối loạn chức năng hô hấp (CNHH) là 30,4 %, trong đó hội chứng hạn chế là 18,1 %, hội chứng tắc nghẽn là 1,4 % và hội chứng hỗn hợp là 10,9 %. Số công nhân có các chỉ tiêu FEV1, MMEF, PEFR, FEF75, 50, 25 % thấp dưới mức b́nh thường chiếm tỷ lệ cao ngay ở nhóm tuổi đời và tuổi nghề thấp và càng tăng ở tuổi nghề cao.Tỷ lệ công nhân có rối loạn CNHH tăng rơ rệt theo tuổi đời và tuổi nghề. Biểu hiện sớm rối loạn tắc nghẽn ở cả đường khí lớn và đường khí nhỏ ở công nhân tiếp xúc với bụi silic. Đặc biệt rối loạn tắc nghẽn đường khí nhỏ chiếm tỷ lệ cao ngay ở những công nhân có tuổi nghề dưới 5 năm.
Nghiên cứu biến đổi chức năng hô hấp,áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán và giám định bệnh bụi phổi - bôngTạ Tuyết B́nh, Phạm Ngọc Quỳ, Dương Khánh VânViện YHLĐ & VSMT
Đối tượng nghiên cứu gồm 483 công nhân tiếp xúc với bụi bông. Mục tiêu nghiên cứu nhằm áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán ứng dụng giám định bệnh bụi phổi - bông (Bp - B). Thiết bị đo: Máy Spiro - Analyser ST - 250 của Nhật. Kỹ thuật đo được thực hiện theo Hội lồng ngực Mỹ (ATS - American Thoracic Society).Nghiệm pháp dược động học được thực hiện cho những đối tượng có FEV1 giảm vào cuối ca lao động ³ 200 ml và những trường hợp có rối loạn thông khí (RLTK) tắc nghẽn. Kết quả cho thấy có 19 công nhân, chiếm tỷ lệ 3,9 % có RLTK tắc nghẽn không hồi phục. Số công nhân có RLTK tắc nghẽn không hồi phục được điều trị 15 ngày với các loại thuốc giăn phế quản, kháng Histamin tổng hợp (Diaphylline) và thuốc tăng cường thể trạng. Sau điều trị, cả 19 công nhân này vẫn c̣n RLTK tắc nghẽn. Như vậy 19 công nhân này đủ điều kiện được đưa giám định bệnh.Đề tài đă xác định được tỷ lệ công nhân mắc bệnh bụi phổi - bông (Bp - B) ở giai đoạn 1 - 34,57 %, giai đoạn 2 - 11,9 %, giai đoạn 3 - 4,7 %. Bệnh Bp - B giai đoạn 3 có hồi phục chiếm tỷ lệ 0,8 % và Bp - B giai đoạn 3 không hồi phục, 3,9 % và đề xuất quy tŕnh khám, phát hiện và giám định bệnh Bp - B phù hợp với thực tế.
Nghiên cứu về rối loạn thông khí phổi và phân tích khí máu ở công nhân tiếp xúc nghề nghiệp với bụi silicTạ Tuyết B́nh, Lê Trung, Phạm Ngọc QuỳViện YHLĐ & VSMTMục tiêu của đề tài là nghiên cứu đặc điểm biến đổi chức năng hô hấp (CNHH) ở công nhân tiếp xúc với bụi silic, đề xuất ứng dụng trong dự pḥng và giám định bệnh bụi phổi-silic (Bp - Si). 2183 công nhân tiếp xúc với bụi silic được đo các chỉ số thông khí phổi bằng máy ST – 250; 79 người bệnh Bp - Si và 93 công nhân tiếp xúc với bụi silic nhưng không mắc bệnh Bp - Si, được phân tích khí máu với máy 248 pH/Blood Gas Analyser.Kết quả cho thấy, đặc điểm rối loạn CNHH ở công nhân tiếp xúc với bụi silic là rối loạn thông khí (RLTK) hạn chế, với tỷ lệ 13,4 %. Về các chỉ số khí máu, tỷ lệ công nhân có các chỉ số khí máu không b́nh thường ở cả hai chỉ số (PaCO2 > 40 mmHg; và PaCO2 < 80 mmHg) cao hơn hẳn so với nhóm công nhân không bệnh với p < 0,0001. Về các chỉ số thông khí phổi, tỷ lệ công nhân có RLTK phổi ở nhóm có bệnh là 34,6 % cao hơn hẳn nhóm không bệnh, tỷ lệ 7,8 % với p < 0,001, OR = 6,02.Các tác giả đưa ra kết luận về đặc điểm RLTK phổi, các chỉ tiêu khí máu ở công nhân tiếp xúc với bụi silic ở hai nhóm có bệnh Bp - Si và không có bệnh. Các tác giả đă đề xuất những kiến nghị về dự pḥng và giám định bệnh dựa trên những rối loạn CNHH.
Thực trạng điều kiện lao động và biến đổi một số chỉ tiêu tâm sinh lư của người lao động trên cao
Tạ Tuyết B́nh, Nguyễn Thu Hà, Trần Thanh Hà và ctvViện Y học lao động và Vệ sinh môi trường
Nghiên cứu được tiến hành nhằm điều tra thực trạng điều kiện lao động và biến đổi một số chỉ tiêu tâm sinh lư của người lao động trên cao (LAOĐTC) từ đó đề xuất các tiêu chuẩn khám tuyển, khám định kỳ cho công nhân LAOĐTC. 284 công nhân trực tiếp lao động trên cao được chọn làm nhóm nghiên cứu và được so sánh với 21 công nhân nhóm chứng.Kết quả nghiên cứu cho thấy: Điều kiện lao động của công nhân LAOĐTC nói chung và trong các ngành như điện lực, xây dựng, bưu chính viễn thông…đều là gánh nặng có ảnh hưởng tới sức khoẻ người lao động: Điều kiện khí hậu khắc nghiệt, lao động thể lực nặng, tư thế lao động bất lợi, công việc có kỳ hạn ở độ cao nguy hiểm, mặt bằng thao tác chật hẹp và không an toàn. Căng thẳng thần kinh tâm lư biểu hiện qua chức năng hệ tim mạch (3/4 số đối tượng nghiên cứu có biểu hiện căng thẳng chức năng hệ tim mạch ở mức quá căng thẳng sau khi lao động trên cao (mức 3/4 theo phân loại của Baevski - dựa theo chỉ số thống kê toán học nhịp tim)); chức năng hệ thần kinh (thời gian phản xạ thính - thị vận động sau ca lao động kéo dài rơ rệt so với đầu ca (P < 0,05). Kết quả biến đổi các chỉ tiêu điện năo đồ theo xu hướng xấu, biểu hiện rơ rệt ở công nhân sau khi trèo cao so với nhóm chứng. 1/2 số công nhân được phỏng vấn có cảm giác bất lợi khác nhau vào những lúc mệt và thời gian lao động kéo dài. Các tiêu chuẩn khám tuyển, khám sức khoẻ định kỳ cho công nhân LAOĐTC cũng đă được đề tài đề xuất.Các tác giả kiến nghị cần thực hiện nghiêm ngặt các quy định về sức khỏe và an toàn cho công nhân LAOĐTC.
Nghiên cứu biểu hiện phản ứng của cơ thể thuyền viên với nghiệm pháp tích luỹ gia tốc liên tục coriolisvà ứng dụng trong tuyển chọn khả năng chịu sóng của thuyền viên
Trần Quỳnh Chi, Nguyễn Trường SơnViện Y học biển Việt Nam
Các tác giả đă nghiên cứu khả năng chịu sóng của hai nhóm thuyền viên có khả năng chịu sóng khác nhau (nhóm chịu sóng tốt và nhóm chịu sóng kém) thông qua chỉ số mạch, huyết áp và thần kinh thực vật bằng nghiệm pháp tích luỹ gia tốc liên tục Coriolis đă cải tiến lại phần thiết bị “quay - lắc” tại Viện Y học biển Việt Nam.Kết quả nghiên cứu thu được như sau: Giữa hai nhóm thuyền viên bị say sóng và nhóm chịu sóng tốt có sự khác nhau rơ rệt về cách thức phản ứng với nghiệm pháp tích luỹ liên tục gia tốc Coriolis, cụ thể là nhóm chịu sóng tốt thời gian chịu đựng nghiệm pháp tốt (> 2 phút), biểu hiện lâm sàng gần như b́nh thường (chỉ có 20 % có chóng mặt nhẹ), tần số mạch tăng, huyết áp tâm thu và tâm trương đều tăng (huyết áp tối đa tăng nhiều hơn huyết áp tối thiểu), chỉ số thần kinh thực vật tăng biểu hiện xu hướng cường chức năng thần kinh giao cảm. Nhóm thuyền viên chịu sóng kém gồm 2 nhóm nhỏ: Nhóm bị say sóng nặng không chịu đựng được hết thời gian quy định của nghiệm pháp (< 2 phút), biểu hiện của say sóng rầm rộ (hoa mắt chóng mặt, nhức đầu, buồn nôn, nôn...), đáp ứng của hệ tim mạch và hệ thần kinh thực vật theo hướng cường hệ thần kinh phó giao cảm rơ rệt với tần số mạch, huyết áp và chỉ số thần kinh thực vật đều giảm. Nhóm bị say sóng trung b́nh có biểu hiện lâm sàng của say sóng nhẹ hơn nhóm trên, chức năng hệ tim mạch và hệ thần kinh thực vật hầu như không thay đổi. Nghiệm pháp tích luỹ liên tục gia tốc Coriolis sau khi được cải tiến cho gần với điều kiện tác động của sóng hơn, hoàn toàn có thể áp dụng vào công tác tuyển chọn khả năng chịu sóng của người đi biển Việt Nam.Thông qua đó, có thể đề ra các biện pháp điều trị và rèn luyện khả năng chịu sóng cho thuyền viên Việt Nam.
Điều kiện lao động và sức khỏe nghề nghiệp của nữ công nhân dây chuyền sản xuất giầy
Nguyễn Thế Công và cs, Viện Bảo Hộ Lao ĐộngNguyễn Ngọc Ngà và cs, Viện YHLĐ & VSMTNguyễn Thị Thu và cs, Trường Đại học Y Hà Nội
Nghiên cứu mô tả mức độ ô nhiễm môi trường lao động (MTLĐ), mức gánh nặng lao động và t́nh trạng sức khỏe nghề nghiệp, làm cơ sở đề xuất các giải pháp kiểm soát các yếu tố nguy cơ nghề nghiệp, cải thiện điều kiện làm việc, bảo vệ sức khỏe nữ công nhân trong giai đoạn đầu công nghiệp hoá. Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang và nghiên cứu tập trung vào nhóm nữ công nhân may mũ giầy, dán g̣ và hoàn chỉnh giày thể thao, giày vải và giày nữ của 13 nhà máy giày, (10 % số doanh nghiệp thuộc 3 vùng quy hoạch) với 1813 người (1548 nữ, 265 nam, 20 % số công nhân trực tiếp sản xuất). Đề tài đo đạc, đánh giá hàng ngh́n mẫu các yếu tố MTLĐ; khám sức khỏe và hồi cứu hồ sơ khám chữa bệnh của 8024 trường hợp mắc bệnh (5553 nữ, 2417 nam); điều tra phỏng vấn cá nhân, thực hiện các test tâm sinh lư, đánh giá ecgonomi, điều tra rối loạn cơ xương đối với nữ công nhân.Kết quả cho thấy, công nhân sản xuất giày chịu ô nhiễm môi trường lao động đa yếu tố: Nhiệt, tiếng ồn, bụi, ánh sáng, hơi khí độc, đặc biệt là nhóm dung môi hữu cơ (DMHC) (31 % mẫu Toluen vượt 1,2 - 1,8 lần tiêu chuẩn cho phép...). Nữ công nhân chịu gánh nặng thể lực do duy tŕ tư thế ngồi g̣ bó kéo dài, thao tác dùng lực cánh tay, bàn tay, mức đơn điệu lặp lại cao.…Mức nặng nhọc độc hại của nghề, công việc tương đương loại V - VI. Công nhân mắc phổ biến các bệnh: Tai mũi họng, răng hàm mặt, tiêu hoá, hô hấp. Nữ công nhân mắc các bệnh do tác động phối hợp của hơi khí độc, DMHC: Thiếu máu, thần kinh, nội tiết, ngoài da, xương cơ khớp cao hơn nam công nhân (p < 0,01, p < 0,05); nữ công nhân bị rối loạn kinh nguyệt cao (26,4 %); triệu chứng phổ biến sau ca sản xuất: Đau đầu (37,9 %), chóng mặt (35,9 %), ngạt mũi, giảm thị lực...Triệu chứng đau mỏi cơ xương cao ở tay, chân, cổ, vai, lưng, thắt lưng (34,2 – 56,7 %). Đặc biệt nghiêm trọng đă xảy ra các vụ nhiễm độc cấp tính tập thể hàng trăm nữ công nhân, có một trường hợp tử vong do hít phải hơi khí độc.Các tác giả đă đề xuất, xây dựng và kiến nghị áp dụng các giải pháp kỹ thuật công nghệ cải thiện môi trường lao động điển h́nh; giải pháp y - sinh giảm mệt mỏi, thư giăn, tổ chức khoa học lao động và các giải pháp giáo dục, huấn luyện kiến thức an toàn vệ sinh lao động cho nữ công nhân và người sử dụng lao động.
Các vấn đề đau mỏi cơ xương và stress nghề nghiệp ở các bác sĩ và y tá tại một Pḥng khám nha khoa
Nguyễn Bích DiệpViện Y học lao động & Vệ sinh môi trường
Nghiên cứu được tiến hành nhằm điều tra đau mỏi cơ xương và stress nghề nghiệp ở các bác sĩ và y tá tại một Pḥng khám nha khoa ở Thuỵ Điển. Tất cả 19 nhân viên bao gồm 9 bác sĩ và 10 y tá nha khoa là đối tượng của nghiên cứu. Quan sát, phỏng vấn trực tiếp, điều tra và phỏng vấn bằng bảng câu hỏi và phương pháp RULA đánh giá tư thế làm việc, được sử dụng là các phương pháp nghiên cứu.Kết quả nghiên cứu cho thấy tư thế làm việc của các bác sĩ nha khoa rất bất lợi (ngồi tĩnh kéo dài, vai nâng, cổ gập & vặn, thân nghiêng...) và cần phải thay đổi ngay. Đối với các y tá trợ lư, tư thế thoải mái hơn (ngồi hoặc đứng hoặc đi lại) và có thể chịu đựng được. Do tư thế bất hợp lư khi thực hiện công việc, 89 % các bác sĩ và 80 % các y tá trợ lư phàn nàn về đau mỏi cổ. Hơn 50 % đối tượng phàn nàn đau mỏi cả hai vai, 1/3 các bác sĩ bị đau lưng. Đau thắt lưng (20 %), đau cổ (47 %), và đau vai (54 %) đă hạn chế công việc và các hoạt động trong thời gian rảnh rỗi của các đối tượng. Các đối tượng phải nghỉ việc: Do đau lưng (20 %), do đau vai (46 %) và do đau cổ (47 %). Ngoài ra, 30 %, 46 % and 33 % các đối tượng cần giúp đỡ về y tế do đau thắt lưng, đau vai và đau cổ. Tất cả các đối tượng làm việc trong môi trường nhiều stress. Nguyên nhân gây stress được báo cáo nhiều nhất là áp lực về thời gian gây mệt mỏi tâm thần. Bên cạnh đó, nguyên nhân lớn khác là điều trị cho bệnh nhân nặng.Cả các bác sĩ và các y tá trong Pḥng khám nha khoa có các vấn đề về đau mỏi cơ xương và tâm lư xă hội khi họ thực hiện công việc của ḿnh. Do đó, khuyến nghị là cần phải thực hiện ngay những thay đổi về Ecgônômi.
Đánh giá gánh nặng lao động ở công nhân là hơi của các công ty may thuộc tổng công ty dệt may Việt Nam
Nguyễn Đ́nh Dũng, Lê Thu Nga, Bùi Hoài Nam, Nguyễn Huy TuấnTrung tâm Y tế Dệt May
Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá điều kiện lao động và sức khỏe - cơ cấu bệnh tật, gánh nặng lao động của công nhân là hơi và đề xuất giải pháp dự pḥng. Đề tài triển khai khảo sát điều kiện lao động, nghiên cứu biến đổi về thần kinh tâm lư, đo lực cơ, phỏng vấn,...Xử lư số liệu bằng chương tŕnh EPIINFFO 6.0.Kết quả nghiên cứu cho thấy vi khí hậu vùng làm việc của công nhân là hơi hầu hết không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh cho phép (TCVSCP): Nhiệt độ 50 % các mẫu đo không đạt TCVSCP, độ ẩm 33,3 % các mẫu đo không đảm bảo TCVSCP, tốc độ gió tất cả các mẫu đo không đảm bảo TCVSCP. Cường độ lao động, tư thế và thao tác làm việc ở mức báo động, thời gian làm việc, công việc bị động.Công nhân là hơi nam chiếm 90,8 %, công nhân nữ 9,2 %. Sức khoẻ công nhân chủ yếu là loại I & II (91,55 %), không có loại IV & V. Tỉ lệ đau mỏi cơ xương khớp ít nhất tại một điểm là 86,6 %, gáy chiếm 50,5 %, vai cánh tay 57,7 %, thắt lưng 45,8 %, khuỷu tay 38,7 %, cổ tay 27,3 %, bàn tay 26,1 %.. Đánh giá độ mệt mỏi trong lao động qua Test thần kinh và đo lực cơ thấy có sự khác biệt trước và sau lao động có ư nghĩa thống kê với p < 0,05.Các tác giả kiến nghị cần áp dụng các biện pháp giảm nhẹ gánh nặng lao động, cải thiện điều kiện lao động, quản lư chăm sóc sức khỏe. Có nghiên cứu sâu hơn để đưa lao động của công nhân là hơi xếp loại lao động thể lực cao.
Một số kết quả nghiên cứu môi trường, điều kiện làm việc và đặc điểm sinh thể,sức khỏe của người lao động Thuộc ngành sản xuất hoá chất cơ bản
Nguyễn Thị Gia, Nguyễn Thế Công và csViện nghiên cứu KHKT Bảo hộ lao động
Đề tài nghiên cứu trên 200 người lao động làm việc tại các vị trí nặng nhọc, độc hại, có thâm niên công tác ít nhất là 5 năm trở lên tại công ty hoá chất Việt Tŕ và Công ty Supe phốt phát và hoá chất Lâm Thao. Mục tiêu đề tài là nghiên cứu đặc điểm về sức khỏe và bệnh nghề nghiệp của một vài loại h́nh lao động đặc thù, đặc biệt đối với một số nghề nặng nhọc độc hại của ngành sản xuất hoá chất cơ bản. Xác lập cơ sở khoa học để đề xuất một số giải pháp và chính sách để pḥng chống bệnh nghề nghiệp, bảo vệ sức khỏe cho người lao động thuộc nhóm ngành trên. Đề tài đă tiến hành khảo sát môi trường lao động (đo nồng độ bụi, hơi khí độc, vi khí hậu, chiếu sáng công nghiệp và ồn, rung tại các vị trí sản xuất) và khám sức khỏe toàn diện cho công nhân (hô hấp, tuần hoàn, thần kinh, tiêu hoá, tai mũi họng, răng hàm mặt...). Dùng phiếu phỏng vấn cá nhân kết hợp bảng câu hỏi về đánh giá mức độ mệt mỏi. Đo thời gian phản xạ thính thị vận động. Xét nghiệm cận lâm sàng: Xét nghiệm công thức máu (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu), đo chức năng hô hấp, xét nghiệm nước tiểu, đo thính lực. Xử lư số liệu bằng chương tŕnh Excel, Epiinfo 6.0.Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số công nhân được phân loại sức khỏe loại 3 với tỷ lệ 63,13 %. Không có công nhân ở sức khỏe loại I. 35,71 % số công nhân được xét nghiệm máu có biến đổi công thức máu nhẹ. 27,5 % có rối loạn thông khí phổi. 21,88 % người lao động giảm sức nghe. Bệnh tai mũi họng chiếm một tỷ lệ tương đối cao > 50 % ở cả 2 công ty, đặc biệt ở công ty hoá chất Việt Tŕ là 73,96 %. ở nhóm công nhân có tuổi đời và tuổi nghề càng cao th́ tỷ lệ mắc các bệnh như viêm họng, viêm mũi dị ứng, dị ứng mẩn ngứa với hoá chất càng cao. Với thâm niên công tác càng cao, thời gian tiếp xúc với hoá chất càng nhiều th́ thời gian thính thị vận động của người lao động kéo dài hơn nhiều so với nhóm có tuổi nghề thấp.Báo cáo bước đầu đánh giá thực trạng môi trường, điều kiện làm việc và sức khoẻ của người lao động thuộc nhóm ngành sản xuất hoá chất cơ bản, từ đó rút ra những nhận xét kết luận và đề xuất một số giải pháp để cải thiện điều kiện làm việc.
Đánh giá căng thẳng chức năng tim mạch bằng chỉ số thống kê toán học nhịp tim ở nhân viên y tế
Trần Thanh Hà, Nguyễn Thu Hà, Nguyễn Bích DiệpViện Y học lao động và Vệ sinh môi trường
Nghiên cứu căng thẳng chức năng hệ tim mạch bằng các chỉ số thống kê toán học nhịp tim (TKTHNT) ở 113 cán bộ y tế (30 bác sĩ, 83 y tá và hộ lư) tại khoa hồi sức cấp cứu và khoa ngoại của 2 Bệnh viện Trung Ương ở Hà Nội (Việt Đức và Bạch Mai). Đo điện tâm đồ gồm 100 khoảng RR cho các đối tượng nghiên cứu. Các chỉ số TKTHNT được đánh giá ở trạng thái tĩnh vào đầu ca; Rối loạn chức năng thần kinh thực vật (TKTV) điều khiển nhịp tim theo các chỉ số TKTHNT được đánh giá trong quá tŕnh lao động và đánh giá biến đổi chỉ số TKTHNT cuối ca mổ và cuối ngày làm việc so với đầu ca.Kết quả nghiên cứu cho thấy các chỉ số TKTHNT trung b́nh s và chỉ số căng thẳng (CSCT) của nhân viên y tế ở trạng thái tĩnh trước lao động đều ở mức quá căng thẳng – mức 3/4 theo phân loại của Baevxki 1984 (s 0,038 - 0,040; CSCT 235 – 274), tuy nhiên nhóm y tá và hộ lư có biểu hiện căng thẳng hơn so với nhóm bác sĩ (với s thấp hơn 0,036” – 0,039” so với 0,041” – 0,045”, CSCT cao hơn 261 –300 so với 193 - 188 và TSNT cao hơn 79,5 –82,5 so với 71,8 –75,7 tương ứng); đồng thời tỷ lệ các chỉ số TKTHNT ở mức quá căng thẳng với s < 0,040” và CSCT ³ 200 của nhóm y tá và hộ lư cũng cao hơn so với nhóm bác sĩ (s < 0,040” là 53,8 – 62,3 % so với 37,5 – 38,1 % và CSCT ³ 200 là 61,5 – 49,8 % so với 25,0 – 28,6 % tương ứng). Kết quả nghiên cứu chức năng TKTV nhịp tim trong ngày làm việc với các biểu hiện trội giao cảm, trội phó giao cảm, và rối loạn dạng trội giao cảm và dạng trội phó giao cảm theo các chỉ số TKTHNT ở cả 2 cơ sở của nhóm bác sĩ (50 – 58,6 %) gần với của nhóm y tá - hộ lư (53,8 - 64,3 %). Kết quả nghiên cứu biến đổi các chỉ số TKTHNT ở các nhóm đối tượng cho thấy sau ca mổ, sau ca trực pḥng khám của khoa ngoại và sau ngày làm việc của nhân viên khoa hồi sức cấp cứu thấy CSCT tăng cao, s giảm xuống có ư nghĩa thống kê, trong đó vào cuối ca làm việc các chỉ số TKTHNT của các nhóm đều ở ngưỡng quá căng thẳng tim mạch. Kết quả trên bước đầu cho thấy của nhân viên y tế khoa Hồi sức cấp cứu và khoa ngoại căng thẳng chức năng hệ tim mạch và cơ thể ở mức cao, trong đó nhóm y tá, hộ lư có căng thẳng ngay từ đầu ca và kéo dài trong suốt ngày làm việc. Nhóm bác sĩ mổ chính có chỉ số TKTHNT ở mức quá căng thẳng ngay từ đầu ca mổ và cuối ca c̣n có biểu hiện căng thẳng hơn và ở mức căng thẳng nhất (s 0,032 và CSCT 490 vào cuối ca mổ so với s 0,036 và CSCT 240 vào đầu ca mổ).Các tác giả đề xuất có thể dùng các chỉ số TKTHNT trong nghiên cứu đánh giá mức độ căng thẳng chức năng hệ tim mạch và cơ thể trong nghiên cứu đánh giá căng thẳng lao động của nhân viên y tế trong phạm vi rộng hơn.
Đánh giá dao động nhịp tim và điện tâm đồ ở công nhân lái xe
Trần Thanh Hà, Phạm Ngọc Quỳ, Nguyễn Thu HàViện YHLĐ & VSMTPhạm Hải Yến, Lưu Minh ChâuTrung tâm y tế Lao động bộ Giao thông vận tải
Nghiên cứu dao động nhịp tim bằng các chỉ số thống kê toán học nhịp tim (TKTHNT) và mối liên quan với biến đổi trên điện tâm đồ và huyết áp ở 66 đối tượng lái xe khách (LXK) và lái xe bưu chính (LXBC), 15 giáo viên lái xe (GVLX) và 45 học sinh lái xe lái tàu (HSLX).Kết quả nghiên cứu cho thấy các chỉ số TKTHNT trung b́nh s và chỉ số căng thẳng (CSCT) của 3 nhóm GVLX, LXK và LXBC đều ở mức quá căng thẳng – mức 3/4, nhóm HSLX ở mức 2/4 theo phân loại của Baevxki 1984. GVLX với tuổi đời và tuổi nghề cao nhất biểu hiện hoặc có xu hướng căng thẳng chức năng hệ tim mạch cao hơn các nhóm khác: s ở mức thấp nhất 0,023”, CSCT cao nhất 648 (P < 0,05 – 0,001); trội giao cảm (46,7 %) và rối loạn điều khiển nhịp tim dạng trội giao cảm (33.3 %), tăng huyết áp (THA) (26,7 %) và biểu hiện thiếu máu cục bộ cơ tim (TMCBCT) trên điện tâm đồ (ĐTĐ) (13,3 %) đều có xu hướng cao hơn các nhóm khác. Nhóm LXK có biểu hiện căng thẳng tim mạch hơn so với nhóm LXBC theo chỉ số TKTHNT (s 0,030 so với 0,038 với P < 0,02, CSCT 397 so với 270, trội GC 40,7 % so với 30,8 % tương ứng). Căng thẳng trạng thái chức năng cơ thể và hệ tim mạch theo chỉ số TKTHNT và chỉ số BMI tăng theo tuổi đời và tuổi nghề (r = 0,46 - 0,63) với P < 0,001). Bước đầu thấy có xu hướng liên quan giữa biểu hiện căng thẳng chức năng hệ tim mạch bằng các chỉ số TKTHNT với THA và biểu hiện TMCBCT trên ĐTĐ ở nhóm LXK và LXBC.Các tác giả đề xuất tiếp tục nghiên cứu trạng thái chức năng cơ thể và chức năng tim mạch bằng chỉ số TKTHNT trong các ngành nghề căng thẳng độc hại nhằm phát hiện tác hại nghề nghiệp ảnh hưởng tới chức năng tim mạch người lao động.
Điều tra cơ bản về sức khỏe sinh sản ở phụ nữ làm nông nghiệp
Nguyễn Thu HàViện YHLĐ & VSMT
Nghiên cứu được tiến hành nhằm điều tra cơ bản về sức khỏe sinh sản ở phụ nữ làm nông nghiệp. 416 phụ nữ trong độ tuổi 15 - 49 (có chồng) đă được phỏng vấn điều tra. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tỷ lệ có sử dụng các biện pháp tránh thai trong kế hoạch hoá gia đ́nh là 69,5 % . Biện pháp đặt ṿng chiếm tỷ lệ cao nhất (65,2 %), dùng bao cao su 9 % , đ́nh sản (nam và nữ) 6 % và các biện pháp khác (19,8 %). Tỷ lệ thất bại khi dùng các biện pháp tránh thai là 12,8 %. Trong quá tŕnh mang thai 74,5 % các bà mẹ có đi khám thai trong đó số khám thai ³ 3 lần chiếm 45,6 %; 67,6 % các bà mẹ tiêm pḥng uốn ván khi mang thai và tỷ lệ các bà mẹ có uống viên sắt khi mang thai là 59,1 %. 93,6 % các bà mẹ sinh con tại các cơ sở y tế, được các nhân viên y tế đỡ đẻ và chỉ có 7,5 % phụ nữ khám lại sau khi sinh con 6 tuần. 35,8 % phụ nữ chưa bao giờ nghe nói đến bệnh phụ khoa và nhiễm trùng đường sinh sản và 56,3 % phụ nữ chưa bao giờ đi khám phụ khoa.Các tác giả khuyến nghị cần tuyên truyền thêm và hướng dẫn cụ thể hơn cho chị em trong vấn đề kế hoạch hoá gia đ́nh và chăm sóc thai sản cũng như nâng cao sự hiểu biết về các bệnh phụ khoa và nhiễm trùng đường sinh sản để bảo vệ sức khỏe cho chị em phụ nữ.
T́nh h́nh Đau thắt lưng ở công nhân tiếp xúc với rung toàn thân
Nguyễn Thu Hà, Nguyễn Thị ToánViện YHLĐ và VSMT
Nghiên cứu được tiến hành nhằm t́m hiểu t́nh h́nh đau thắt lưng (ĐTL) ở công nhân tiếp xúc với rung toàn thân. 126 công nhân lái xe Bella được phỏng vấn, khám lâm sàng, chụp xquang và được so sánh với nhóm chứng là 102 các công nhân khác (không phải lái xe).Kết quả nghiên cứu cho thấy: Rung xóc ở xe Bella vượt quá tiêu chuẩn cho phép ở các dải ốc ta tần số 4Hz, 8Hz, 16 Hz; với vận tốc rung từ 1,35 - 4,6 cm/s ở tất cả các phương Z, X, Y và với gia tốc rung từ 0,7 - 4,25 m/s2. ĐTL chiếm một tỉ lệ khá cao trong công nhân lái xe Bella: 70,6 % công nhân có tiền sử ĐTL trong quá tŕnh lao động và tỉ lệ ĐTL tại thời điểm điều tra là 59,5 %, cao gấp 5,26 lần trong tiền sử và 4,08 lần ở hiện tại so với nhóm các công nhân khác (P < 0,001). ĐTL chủ yếu là dưới 7 ngày/đợt chiếm 69,7 %; xuất hiện ĐTL chủ yếu là sau ca làm việc: 88,7 %. Mức độ đau, tần số ĐTL ở nhóm công nhân lái xe cao hơn so với nhóm chứng. Tỷ lệ giảm độ giăn cột sống thắt lưng ở nhóm nghiên cứu cao hơn hẳn nhóm chứng (41,6 % so với 21,9 % với P < 0,05). H́nh ảnh X-quang bất thường ở nhóm nghiên cứu cao hơn nhóm chứng (81,3 % so với 72,0 %). Đặc biệt h́nh ảnh về thoái hoá đốt sống thắt lưng có sự khác biệt rơ rệt (78,1 % so với 36,0 %) với nguy cơ mắc phải cao hơn 6,35 lần (OR) và với P < 0,02.Các tác giả khuyến nghị cần áp dụng ngay nhiều biện pháp để làm giảm tỷ lệ ĐTL ở các công nhân tiếp xúc với rung toàn thân.
Nghiên cứu các stress nghề nghiệp và t́nh h́nh sử dụng thuốc của công nhân một công ty may mặc
Phùng Văn Hoàn, Đại học Y Hà NộiNguyễn Đ́nh Dũng, Trung tâm y tế dệt mayTrần Thị Thân
Việc đổi mới công nghệ trong công nghiệp may mặc đă cải thiện nhiều điều kiện lao động của công nhân: gánh nặng lao động thể lực giảm, tăng năng xuất lao động và chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, người công nhân phải có tŕnh độ, năng lực và sức chịu đựng phù hợp với quá tŕnh sản xuất, đặc biệt với các stress nghề nghiệp. Mục tiêu của đề tài là xác định các stress quá mức của công nhân may, so sánh với công nhân nghề khác cùng công ty. Mô tả t́nh h́nh sử dụng thuốc có liên quan đến mục đích chống mệt mỏi, giảm đau của công nhân. Phương pháp nghiên cứu: Dịch tễ học mô tả cắt ngang. Cỡ mẫu: N = 200. Sử dụng tỷ xuất chênh OR, kiểm định theo phương pháp X2.Kết quả nghiên cứu cho thấy: Thời gian lao động của công nhân may kéo dài trên 8 h/ngày chiếm tỷ lệ lớn (79,5 %). Tỷ lệ công nhân không chấp nhận môi trường do bụi chiếm 67 %, tỷ lệ không chấp nhận về nhiệt độ là 28 %, tiếng ồn là 11 %. Stress do phạm vi mơ hồ chiếm tỷ lệ cao ở cả công nhân may và công nhân làm nghề khác (37 % ở công nhân may, 26,3 % công nhân nghề khác). Stress do thời gian lao động kéo dài và ca kíp chiếm tỷ lệ cao nhất (56 %), stress do làm việc quá tải chiếm tỷ lệ cao (37 % công nhân may, 39,5 % công nhân nghề khác). Tỷ lệ stress do trả lương không công bằng thích đáng chiếm rất cao, công nhân may (40,7 %), nghề khác (42,1 %). Nhóm công nhân làm việc nhiều giờ trong một ngày sử dụng thuốc nhiều hơn nhóm công nhân làm việc ít giờ hơn. Các Vitamin được sử dụng khá phổ biến chiếm tỷ lệ rất cao: Vitamin B1 (24 %), Vitamin B6 (20,5 %), Vitamin B12 (13,5 %), Vitamin Tổng hợp (12,5 %). Nhóm Vitamin: Vitamin B1 được sử dụng nhiều nhất. Nhóm làm việc trên 9 h/ngày có tỷ lệ sử dụng Vitamin B1 cao nhất (29,6 %). Nhóm giảm đau: Pamin được sử dụng nhiều nhất (24 %). Panadol được sử dụng ít nhất (2 %).Các tác giả đă đề xuất: Các nhân viên Y tế và cán bộ công ty nên sử dụng các biện pháp để phát hiện sớm các nguồn stress tại nơi làm việc và bên ngoài. áp dụng các biện pháp: Mở rộng công việc, phong phú hoá công việc, định kỳ thay đổi công việc, phương pháp giáo dục tư tưởng. Tuy nhiên, phương pháp giáo dục tư tưởng nên có liều lượng hợp lư, lạm dụng phương pháp này kéo dài sẽ không mang lại hiệu quả.
Tai nạn đập lúa, phân tích trường hợp
J.M. Potekar, Viện nghiên cứu nông nghiệpV.K. Tewari, Viện Nông nghiệp và thực phẩm
Điều tra tai nạn do máy đập lúa ở quận Latur thành phố Maharashtra, theo một bảng câu hỏi. Trong quận có 6 máy đập lúa, ở mối máy đập lúa chọn ngẫu nhiên ít nhất 10 thợ đập lúa. Nhân viên điều tra điều phiếu câu hỏi. Thường nam giới trẻ, đă trưởng thành tham gia đập lúa.Nghiên cứu cho thấy nhiều lư do tai nạn như thời gian thao tác, chiếu sáng nơi làm việc không thích hợp và mệt mỏi. C̣n vài yếu tố khác như ngă do máy đập lúa cao, hay phương pháp vận hành máy.Nghiên cứu cho thấy phải phối hợp nguyên tắc Ecgônômi trong thiết kế hệ thống vận hành máy đập lúa với việc vận hành an toàn.
Thiết kế ROPS dựa vào ROPS trên phần mềm LS Dyna và so sánh với phương pháp truyền thống cũ khi thiết kế ROPS
J.M. PotekarViện nghiên cứu nông nghiệpV.K. TewariViện Nông nghiệp và thực phẩm
Dùng ROPS để tránh tai nạn chết người. Nghiên cứu và kinh nghiệm cho thấy khung an toàn và buồng cabin có hiệu quả cho việc này. Trước hết kiểm tra lợi ích của phần mềm LS Dyna mô h́nh ROPS dày 6 mm x 6 mm, cao và rộng 22.5 cm. Độ lệch theo lư thuyết cũ theo Ashburner được sử dụng để tính toán. Kiểm tra mô h́nh ROPS theo độ lệch trên mô h́nh thiết bị thực nghiệm ROPS với quả lắc cao 1.05 m, nặng 11 kg. Độ lệch thực tế đó được so sánh cới độ lệch tạo thành ở LS Dyna. Và cũng từ đó LS Dyna có thể được sử dụng rất tốt để thiết kế ROPS. ROPS thiết kế như vậy, sử dụng phần mềm LS Dyna được sản xuất.So với lư thuyết cũ, LS Dyna là phương pháp chính xác, giảm được thời gian và tiết kiệm được tiền.
Thiết kế và thử nghiệm ROPS bằng thử nghiệm động lên phần mềm LS dyna cho máy kéo
J.M. Potekar, Viện nghiên cứu nông nghiệpV.K. Tewari, Viện Nông nghiệp và thực phẩm
Máy kéo được sử dụng cho công việc đồng ruộng và tai nạn máy kéo xảy ra, chủ yếu do lật đổ sang bên. Cấu trúc bảo vệ được phần mềm LS Dyna thiết kế và thử nghiệm động lên thiết bị theo ISO 3463:1989 và ISO 1181:1992. Thiết bị làm test động cơ chiều cao 9 m và quả lắc 2000 kg được treo cách 6 m từ đỉnh thiết bị theo tiêu chuẩn ISI. Khung ROPS được làm theo thiết kế LS Dyna. Khung được thử nghiệm bằng sự va chạm của quả lắc 2000 kg từ chiều cao thiết kế. Đo độ lệch trong giới hạn, không năm trong vùng như thiết kế xác định.Kết quả cho thấy phần mềm LS Dyna có thể dùng để thiết kế về tiền thử nghiệm ROPS trên máy vi tính, chi phí giảm, thời gian ít, chính xác tăng.
Hiệu quả của độ rộng khe đế giày đối với hệ số ma sát giữa đế giày và sàn nhà
Kai Way Li, Chin Jung ChenKhoa quản lư công nghiệp, Đại học tổng hợp Chung - Hua,Hsin – Chu, 300, Đài Loan
Thiết kế khe đế giày rất hay gặp. Tuy nhiên, đo đạc hệ số ma sát (COF) giữa vật liệu làm giày và sàn nhà thường dùng thước đo độ trơn trượt, một vật đệm giày phẳng. Cách đo như vậy không tính đúng được sức cản sự trơn trượt của vật đệm giày. Nghiên cứu này nhằm khảo sát mối liên quan giữa COF đo được và độ rộng của khe đế giày với 4 loại vật liệu làm giày (da, neolit, ethylene vinyl acetate (EVA) và cao su), 3 loại sàn (thép, terrazzo và vinyl) và 4 loại chất lỏng nhiễm bẩn sàn (nước, chất tẩy rửa, dầu chải, dầu đổ). Làm thực nghiệm ngẫu nhiên với 4 yếu tố. Độ rộng của khe đế giầy là 0, 3, 6, 9 và 12 mm. Hệ số ma sát theo 4 điều kiện thực nghiệm được đo bằng máy thử nghiệm độ trơn trượt Brungraber Mark II.Kết quả ANOVA cho thấy hiệu quả của cả 4 yếu tố đều có ư nghĩa thống kê (p < 0,001). Kết quả test Duncan với nhiều khoảng cho thấy sự khác nhau giữa độ rộng của khe đế giày đều có ư nghĩa: Khe càng rộng, hệ số ma sát càng lớn. Hiệu quả độ rộng khe đế giầy càng rơ rệt đối với sàn ướt do nước và chất tẩy rửa hơn là do dầu.Từ khoá: Hệ số ma sát, thiết kế khe đế giày, máy đo độ trơn trượt Bragraber Mark II.
Khảo sát về sàn nhà trơn trượt và kinh nghiệm trơn trượt/ngă của nhân viên nhà hàng ăn nhanh ở Đài Loan
Kai Way Li, Kuei – Hsiung HsuKhoa quản lư công nghiệp, Đại học tổng hợp Chung - Hua,Hsin – Chu, 300, Đài LoạnWen - Ruey Chang, Yueng – Hsiang E. HuangTheodore K. Courtney, Alfred FilianggiViện nghiên cứu an toàn Liberty Mutual, Hopkinson, Hoa Kỳ
Mục tiêu nghiên cứu là xem xét kinh nghiệm trơn trượt/ngă của nhân viên và xác định độ trơn sàn nhà, dựa trên sự nhận biết của nhân viên và xác định độ trơn sàn nhà, dựa trên sự nhận biết của nhân viên trong phần lớn nhà hàng ở Đài Loan. 56 nhân viên trong 10 nhà hàng thức ăn nhanh là đối tượng nghiên cứu. Mỗi nhà hàng nghiên cứu 4 - 10 người, trung b́nh là 5 - 6. Cán bộ nghiên cứu đến từng nhà hàng, phỏng vấn nhân viên sau bữa ăn trưa.Kết quả cho thấy rằng, đa số (60,7 %) nhân viên được phỏng vấn có kinh nghiệm trơn trượt mà không bị ngă trong bếp. 12,5 % trượt ngă không bị tổn thương nặng khi làm việc. Sàn nhà ướt và có dầu là nguyên nhân chính của tai nạn ngă do trơn trượt. Khảo sát độ trơn trượt gồm biểu đồ chỉ 7 khu vực trơn trượt. C̣n dùng thang 4 điểm, điểm 1 là “rất trơn” tới 4 điểm là “hoàn toàn không trơn” và sử dụng test Kruskal - Wallis. Kết quả rất có ư nghĩa (p < 0,001). Kết quả qua nhiều so sánh giữa các khu vực trong các nhà hàng cho thấy phía sau, nơi có bể chứa và khu vực rửa bát là nơi trơn trượt thứ nhất và thứ hai, khu vực các chảo rán xếp thứ ba và khu vực bếp ḷ xếp thứ tư.Các tác giả kết luận trơn trượt và ngă hay gặp ở các nhà hàng thức ăn nhanh và sự trơn trượt ở các mức độ khác nhau theo sự đánh giá của các nhân viên.Từ khoá: Trơn trượt/ngă, nhận biết, nhà hàng thức ăn nhanh.
Lồng ghép chương tŕnh wise vào hệ thống quản lư ILO-OSH 2001 tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Cần Thơ
Tôn Thất Khải(1), Nguyễn Phương Toại(1),Tsuyoshi Kawakami(2), Kazutaka Kogi(3)(1) Trung tâm Sức khỏe Nghề nghiệp và Môi Trường Cần Thơ(2) Nhóm Tư vấn Đông á, Văn pḥng Khu vực Châu á và Tây Thái B́nh Dương của Tổ chức Lao động Quốc tế, Bangkok, Thái Lan(3) Viện Khoa học Lao động, Kawasaki, Nhật Bản
Ngày nay, theo đà phát triển của kỹ thuật và những áp lực không ngừng về cạnh tranh đă từng bước làm thay đổi nhanh chóng điều kiện làm việc tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa. An toàn vệ sinh lao động đang trở nên là một vấn đề quan trọng ở nhiều nước trong đó có Việt Nam. Cùng với sự phát triển nhanh chóng với số lượng khoảng 70.000, các doanh nghiệp nhỏ vừa thực sự là xương sống của nền kinh tế xă hội Việt Nam. Tuy nhiên, do sự không đồng bộ về nhân lực, trang thiết bị và các nguồn tài chính và do ban giám đốc không nhận thức được đầu tư vào công tác an toàn vệ sinh lao động có lợi ích lâu dài, các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam vẫn c̣n thiếu một hệ thống an toàn Vệ sinh lao động (ATVSLĐ) có hiệu quả. Hướng dẫn do Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) về ATVSLĐ 2001 do ILO xây dựng vào tháng 7/2001 đă đưa ra một dụng cụ thiết thực để đánh giá các doanh nghiệp, là phương tiện đạt tới cải thiện không ngừng về ATVSLĐ. Các hướng dẫn này động viên tất cả các thành viên trong doanh nghiệp áp dụng các nguyên tắc ATVSLĐ và đưa ra cơ sở để phát triển một hệ thống ATVSLĐ. Dựa vào những thành công của chương tŕnh WISE (Cải thiện điều kiện làm việc trong các doanh nghiệp nhỏ), một qui tŕnh hướng tới hành động dựa trên những khởi xướng của doanh nghiệp để nâng cao năng suất lao động và cải thiện điều kiện làm việc trong các doanh nghiệp nhỏ vừa, từ tháng 10/2001 trung tâm Sức khoẻ lao động và Môi trường tỉnh Cần Thơ, Việt Nam phối hợp với Chương tŕnh hợp tác song phương ILO/Nhật Bản đă tổ chức 3 khóa học về ILO - ATVSLĐ 2001 cho 38 doanh nghiệp nhỏ vừa, nơi đă áp dụng thành công chương tŕnh WISE. Sau cam kết và quyết định của các nhà quản lư, một chính sách thiết thực về ATVSLĐ, thành lập ban an toàn, tổ chức nhiều khóa học WISE cho công nhân và các quản đốc, nâng cao nhận thức về ATVSLĐ dựa vào số liệu ATVSLĐ, các áp phích, tờ rơi, vv... được từng bước thực hiện. Các bảng kiểm hành động được công nhân sử dụng rộng răi làm phương tiện thực hành để đánh giá các tác hại và nguy cơ ở nơi làm việc. Sau 1 năm thực hiện, có tổng số 316 cải thiện ở 15 doanh nghiệp tham dự khoá học trong đó có 103 cải thiện (32,5 %) do công nhân thực hiện. Sự tham gia t́nh nguyện của công nhân và người quản lư vào chương tŕnh của ILO về ATVSLĐ 2001 cho thấy ATVSLĐ là trách nhiệm hàng đầu của các nhà quản lư các doanh nghiệp nhỏ và vừa khi đào tạo và hướng dẫn là thiết thực và sẵn sàng tiến tới hành động.
Cải thiện an toàn vệ sinh lao động cho công nhân xây dựng thông qua sàng lọc kỹ năng kỹ thuật cũng như các thông số sinh lư
Krishna Nirmalya Sen(1), K. B. Saha(2)(1) Công ty trách nhiệm Hữu hạn Larsen & Toubro, Pḥng ECC(2) Công ty Đường sắt Đông Nam
Lựa chọn “đúng người cho công việc thích hợp” là rất quan trọng cho bất kỳ ngành công nghiệp nào. Trong công nghiệp xây dựng, bản chất công việc là tạm thời và trong thời gian ngắn. ở bất kỳ công trường xây dựng, thợ lành nghề mới được tuyển dụng thêm khi dự án phát triển cùng với sự hạn chế và tăng cường lực lượng lao động. Trong các giai đoạn của hoạt động xây dựng, điều thực sự thách thức với nhóm quản lư dự án là nhận biết, triển khai và giữ lại những người phù hợp với các hoạt động khác nhau. Điều này đă nhận thấy từ những kinh nghiệm trong thời gian qua là các thông số quan trọng như Năng suất, Chất lượng và An toàn chịu ảnh hưởng của việc lựa chọn người lao động. Báo cáo này giải thích nét chính của hệ thống sàng lọc người lao động hiện nay mà hệ thống này đă góp phần cải thiện an toàn và t́nh trạng sức khỏe của công nhân cũng như pḥng chống chấn thương ở những công tŕnh xây dựng lớn của ấn Độ.Do thời gian có hạn cho các thử nghiệm như vậy, khám tuyển dụng được thu xếp ở chính dự án xây dựng. Nếu vị trí quá nhỏ, th́ khám tuyển sẽ được tổ chức tại Trung tâm Tuyển dụng và Thử nghiệm Nghề nghiệp Khu vực. Thử nghiệm được tiến hành để đánh giá kỹ năng của công nhân và khả năng sinh lư phù hợp để thực hiện hoạt động đặc biệt ở các công tŕnh xây dựng.Sự chuẩn bị như vậy đă giúp làm tăng năng suất và tăng cường các vấn đề liên quan đến An toàn vệ sinh lao động. Bài tŕnh bày này cố gắng chia sẻ kinh nghiệm đă thu được thông qua việc thực hiện hệ thống này.
Nghiên cứu tác dụng cải thiện chức năng tim mạch trong lao động của Trà sâm cúc
Nguyễn Tùng LinhHọc viện Quân y
Tác giả nghiên cứu tác dụng cải thiện chức năng tim mạch trong lao động của Trà sâm cúc theo phương pháp mù đôi trên các đối tượng lao động nặng. Các chỉ số nghiên cứu là tần số mạch, huyết áp động mạch, thể tích máu lưu thông được theo dơi ở các thời điểm yên tĩnh, trước và sau nghiệm pháp Martinet, chạy 100 m và chạy 1500 m.Các kết quả nghiên cứu cho thấy ở nhóm uống Trà sâm cúc phản ứng của hệ tim mạch đối với gánh nặng thể lực định mức (nghiệm pháp Martinet) và cực hạn (chạy 100 m và 1500 m) biểu hiện hợp lư và tiết kiệm hơn. Sau nghiệm pháp Martinet, chạy 100 m và chạy 1500 m, tần số mạch, huyết áp tâm thu, thể tích máu lưu thông tăng ít hơn và huyết áp tâm trương giảm so với trước uống thuốc và nhóm đối chứng. Khả năng hồi phục của hệ tim mạch sau gánh nặng thể lực cũng nhanh hơn so với trước uống thuốc.
Nghiên cứu ảnh hưởng của tiếng ồn tới tâm sinh lư người lao động bằng bảng câu hỏi
Đặng Viết Lương, Nguyễn Thị Toán và cs.Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường
Phỏng vấn điều tra trên 365 công nhân ở các nhà máy dệt (dệt Minh Phương-MP; Minh Khai-MK; Đông Nam-ĐN) với thâm niên từ 1-19 năm và ở 76 nhân viên vận hành Thuỷ điện (VHTĐ) có thâm niên 1-9 năm để nhằm xác định tác động của tiếng ồn tới tâm sinh lư người lao động dựa vào đặc điểm công việc, mức ồn và thời gian làm việc bằng bảng câu hỏi. Kết quả nghiên cứu cho thấy với mức ồn 102 dBA ở VHTĐ th́ điều kiện tiếng ồn là 2,4 điểm và phản ứng tâm sinh lư là 2,1 điểm và ở nhà máy dệt MP, tương ứng là 2,3 điểm và 1,3 điểm. ở mức ồn 90 dBA ở nhà máy MK các điểm tương ứng là 1,9 điểm và 1,2 điểm. 97 dBA ở ĐN th́ có các điểm tương ứng là 1,5 điểm và 0,7 điểm. Thâm niên từ 1- 9 năm ở VHTĐ th́ điều kiện tiếng ồn là 2,4 điểm và phản ứng tâm sinh lư là 1,7 điểm. Tương tự, 1-14 năm ở các nhà máy dệt (MP, MK, ĐN) có các điểm tương ứng là 1,8 - 1,9 điểm và 0,9 - 1,1 điểm. Đặc biệt từ 15 - 19 năm ở dệt th́ các điểm là 2,3 điểm và 1,5 điểm.Với đặc điểm tiếng ồn khác nhau (ồn của máy dệt và ồn tổ máy thuỷ điện ) và tính chất công việc khác nhau (dệt và vận hành máy tự động), thời gian làm việc khác nhau, mặc dù có cùng mức ồn như nhau, ảnh hưởng của tiếng ồn đến tâm sinh lư của người lao động cũng khác nhau. Đặc biệt, thâm niên trên 15 năm có xu hướng ảnh hưởng rơ rệt. ở nhân viên vận hành với thâm niên 1 -9 năm cũng bị ảnh hưởng nhiều hơn công nhân dệt trên 15 năm.
Nghiên cứu khả năng thích nghi của phi công quân sự Việt Nam với các loại máy bay hiện đại do nga sản xuất, đề xuất các biện pháp bảo vệ sức khỏe nhằm bảo đảm an toàn bay và kéo dài tuổi bay
Quách Văn Mích, Borixov B.M, Phạm Xuân Ninh,Hoàng ánh Tuyết, Phạm Khắc Linh, Nguyễn Văn Khanh và cs.Trung tâm nhiệt đới Việt - Nga, Bộ Quốc pḥng
Các tác giả nghiên cứu sự thích nghi của phi công Việt Nam với các loại máy bay hiện đại của Nga và đề xuất các biện pháp nhằm củng cố sức khỏe nhằm kéo dài tuổi bay cho phi công. Đề tài nghiên cứu ảnh hưởng các yếu tố bất lợi của môi trường (nóng, ẩm, tiếng ồn, bức xạ, gia tốc) lên sức khỏe phi công. Theo dơi các chỉ tiêu sinh lư (mạch, huyết áp, điện tim, tâm sinh lư...) trước và sau bay. Đánh giá t́nh h́nh bệnh tật qua hồ sơ khám sức khỏe hàng năm. Các tác giả nghiên cứu trên các loại máy bay hiện đại: SU - 22, SU - 27, MIC – 21, L - 39 với tổng số đối tượng là 102 người gồm 78 phi công và 24 học viên. Khảo sát các chỉ số môi trường trong buồng lái và ở ngoài máy bay (nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió, tiếng ồn) theo thường quy Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường. Theo dơi các chỉ số sinh lư, nghiệm pháp gắng sức, tâm sinh lư theo phương pháp Spilberger T.D (Nga). Phân tích t́nh h́nh bệnh tật phi công qua sổ khám sức khoẻ của phi công. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhiệt độ không khí trong buồng lái cao hơn nhiệt độ không khí bên ngoài, đạt 380 C sau 30 phút bay, tiếng ồn dBA, vượt quá tiêu chuẩn cho phép (TCCP) (85 dBA). Dưới tác động của các yếu tố bất lợi trong môi trường (gia tốc, tiếng ồn, bức xạ...) đă phát hiện ở 20 % phi công có những rối loạn trên điện tâm đồ, điều đó chứng tỏ có sự rối loạn hoạt động của tim và tuần hoàn vành. Những biến đổi tuần hoàn ngoại vi dẫn tới sự thiếu oxy mô, làm giảm khả năng lao động thể lực của phi công từ 20 - 30 %. Kết quả nghiên cứu tâm sinh lư phi công không phát hiện được những rối loạn chức năng và bệnh lư. Kết quả phân tích t́nh h́nh bệnh tật của phi công cho thấy viêm họng măn 50 %, bệnh tim mạch 30 %, các bệnh mắt, răng hàm mặt 20 %.Các tác giả đề xuất một số hướng dẫn về y học thực hành nhằm bảo vệ sức khỏe phi công và kéo dài tuổi bay cho phi công.
Xây dựng mô h́nh đánh giá khả năng thích nghi của thanh niên Việt Nam với điều kiện phục vụ trong quân đội
TS. Lê Văn NghịHọc viện Quân y
Môi trường và đặc điểm lao động của bộ đội có nhiều điểm đặc thù, khác với các ngành nghề lao động thông thường. Sau nhiều năm nghiên cứu, tác giả đă đề xuất được mô h́nh đánh giá khả năng thích nghi của thanh niên Việt Nam với điều kiện phục vụ trong quân đội. Dựa trên nhiều yếu tố khác nhau: Cảm giác chủ quan về sức khỏe, khả năng lao động thể lực, trí tuệ, quân sự và đặc điểm bệnh tật, tác giả đă chia khả năng thích nghi thành 3 nhóm: Thích nghi, đang trong thời kỳ thích nghi và rối loạn khả năng thích nghi.áp dụng mô h́nh vào đánh giá khả năng thích nghi của bộ đội bộ binh, xe tăng và rada, tác giả nhận thấy khả năng thích nghi của bộ đội bộ binh (75 - 85 %) cao hơn so với bộ đội xe tăng và rada (60 - 70 %). Thời gian đạt được thích nghi của bộ đội bộ binh từ 4 - 6 tháng, c̣n của bộ đội xe tăng và rada từ 8 – 10 tháng. Tác giả cho rằng để làm tăng khả năng thích nghi của tân binh với điều kiện phục vụ trong quân đội, ngành quân y cần phải quan tâm hơn nữa đến vấn đề tuyển chọn thể lực và tâm sinh lư cho phù hợp với ngành nghề phục vụ trong quân đội.
Hướng dẫn ecgônômi dựa trên internet và nguồn tài liệu
Peter Budnick, Ph.D., CPE, and Emil Golias, MS
Dr. Budnick khảo sát nguồn tài liệu Ecgônômi có sẵn trên Internet. Ông Golias thảo luận nguồn tài liệu được cơ quan vệ sinh an toàn lao động (OSHA) ở Hoa Kỳ triển khai, giải thích chiến lược của OSHA về việc làm giảm tổn thương cơ xương ở dân lao động Hoa Kỳ và chỉ cho người tham gia cách lấy tự do nguồn tài liệu hướng dẫn mà cơ quan đă đưa lên mạng Internet. Báo cáo cũng tŕnh bày tổng quan về các nguồn tài liệu Ecgônômi quốc tế và Hoa Kỳ.
Vấn đề ECGÔNÔMI, thực hiện, chất lượng và tổn thương
Peter Budnick, Ph.D., CPE
Ecgônômi thường được coi là một khoa học ứng dụng giúp cho việc làm giảm tổn thương cơ xương nghề nghiệp. Ngoài ra, Ecgônômi c̣n là công cụ quan trọng tập trung vào việc cải thiện công việc của con người, đối với người lao động và khách hàng.Báo cáo này nêu mối liên quan giữa việc thực hiện của con người, sản lượng, chất lượng và tổn thương. Người tŕnh bày sẽ thảo luận và nêu những công việc hiện có và cách cải thiện công việc của con người và c̣n làm giảm tổn thương, sự không thoái mái ở người lao động & khách hàng.
Nghiên cứu t́nh trạng STress cảm xúc và đặc điểm điện năo đồ ở bộ đội Rađa
Nguyễn Minh PhươngHọc viện Quân y
Đề tài được tiến hành nhằm t́m hiểu stress cảm xúc ở trắc thủ rađa. Đối tượng nghiên cứu gồm 80 trắc thủ rađa có tuổi đời trung b́nh 26,47 ± 5,1 tuổi và tuổi nghề là 6,51 ± 5,22 năm. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là điều tra bằng bảng câu hỏi đánh giá stress cảm xúc và một số yếu tố gây căng thẳng cảm xúc trong lao động, đo và đánh giá điện năo đồ. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Các yếu tố gây stress trong lao động của trắc thủ rađa như: Lao động trí óc cường độ cao, tác động của các yếu tố vật lư hoá học, lao động theo ca kíp, trách nhiệm công việc cao. Có 19/80 (23,75 %) có điểm stress ở mức thấp, 39/80 (48,75 %) có điểm stress ở mức trung b́nh và 22/80 (27,5 %) có điểm stress ở mức cao. Stress biểu hiện trên điện năo đồ là sự giảm biên độ và chỉ số nhịp alpha, tăng biên độ và chỉ số các sóng chậm.Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy mối liên quan giữa mức độ stress và đặc điểm điện năo đồ của các trắc thủ: Mức độ stress càng cao th́ biên độ và chỉ số nhịp alpha càng thấp, biên độ và chỉ số nhịp các nhịp chậm càng cao và ngược lại.
Mô tả điều kiện lao động và chăm sóc sức khoẻ cho người lao động tại 6 cơ sở thuộc làng nghềsản xuất giấy tái sinh xă Phong Khê - huyện Yên Phong - tỉnh Bắc Ninh
Nguyễn Thuư QuỳnhTrường Đại học Y tế công cộng
Nghiên cứu được tiến hành với mục đích t́m hiểu điều kiện lao động và công tác chăm sóc sức khoẻ cho người lao động tại 6 cơ sở sản xuất nhỏ và vừa thuộc làng nghề sản xuất giấy tái sinh tại xă Phong Khê, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính. Tổng số 135 người lao động thuộc 6 cơ sở sản xuất đă được phỏng vấn theo bảng hỏi, 6 cán bộ y tế và cán bộ chính quyền xă đă được phỏng vấn sâu để thu thập thông tin. 2 cơ sở sản xuất được chọn để đánh giá một số tiêu chuẩn về điều kiện vệ sinh lao động tại nơi làm việc như nhiệt độ, tiếng ồn, bụi và hơi khí độc.Kết quả nghiên cứu cho thấy: 100 % các cơ sở sản xuất không đảm bảo an toàn về 5 yếu tố liên quan đến công nghệ: An toàn máy móc, an toàn điện, an toàn nồi hơi và an toàn hoá chất. Nhiệt độ cao hơn từ 50C – 100 C so với tiêu chuẩn cho phép. Hàm lượng CO trong không khí cao hơn tiêu chuẩn cho phép 6,2 mg/m3. Tiếng ồn vượt tiêu chuẩn cho phép từ 4 –7 dBA. 60,7 % người lao động được trang bị bảo hộ lao động cá nhân nhưng hầu hết không đảm bảo chất lượng hoặc không phù hợp với công việc. Tuy nhiên, chỉ có 54 % trong số này có sử dụng bảo hộ lao động khi làm việc. 100 % người lao động không được tập huấn về an toàn lao động. Khi được phỏng vấn, 93,3 % công nhân trả lời nơi làm việc của họ an toàn, 40 % trả lời nơi làm việc của họ không bị ô nhiễm, trong khi kết quả đánh giá về điều kiện an toàn và vệ sinh lao động tại nơi làm việc cho thấy tất cả các cơ sở sản xuất đều không đảm bảo an toàn và trong môi trường làm việc có nhiều yếu tố tác hại nghề nghiệp. Hiện tại người lao động ở đây chưa nhận được một dịch vụ chăm sóc y tế nào từ phía người chủ lao động cũng như từ y tế địa phương.Cần phải có các giải pháp cải thiện điều kiện nơi làm việc cho người lao động. Y tế địa phương cần phối hợp với chính quyền địa phương và các chủ doanh nghiệp để chăm sóc sức khoẻ cho người lao động tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở làng nghề sản xuất giấy tái sinh.
Đánh giá mức độ mệt mỏi ở hệ thần kinh trung ương của phi công quân sự sau bay huấn luyện
Phan Văn ThoạiHọc viện Quân y
Nghiên cứu được tiến hành trên 18 phi công quân sự, có tuổi đời từ 27 đến 45 tuổi. Các chỉ tiêu nghiên cứu là khả năng trí nhớ, chú ư và điện năo đồ của phi công được ghi trước và sau 2 - 3 ban bay huấn luyện. Các kết quả nghiên cứu cho thấy sau 2 - 3 ban bay huấn luyện, khả năng trí nhớ, chú ư của phi công đều giảm sút. Trên điện năo đồ thấy biên độ và chỉ số của nhịp alpha giảm từ 45,37 mV và 68,92 % xuống 37,28 mV và 47,82 %. Đồng thời, biên độ và chỉ số của các nhịp chậm tăng từ 21,45 mV và 25,32 % lên 26,71 mV và 29,46 %, sự khác biệt có ư nghĩa thống kê với p < 0,05 - 0,01.Tác giả cho rằng mức độ căng thẳng cảm xúc cao trong lao động bay đă làm ảnh hưởng đến chức năng của hệ thần kinh Trung ương. Do vậy, phi công cần phải tập luyện để nâng cao kỹ năng bay, nhằm làm giảm mức độ căng thẳng cảm xúc.
Điều kiện lao động làng nghề chế biến lương thực Dương Liễu, Hà Tây và áp dụng giải pháp cải thiện điều kiện lao động
Nguyễn Thị Thu, Trần Như Nguyên,Phan Hướng Dương, Nguyễn thị Bích Liên,Bộ môn sức khỏe nghề nghiệp, Khoa Y tế công cộngĐại học Y Hà Nội
Đề tài được tiến hành với mục tiêu khảo sát điều kiện lao động và bước đầu áp dụng các giải pháp cải thiện điều kiện lao động tại làng nghề chế biến lương thực Dương Liễu, Hà Tây. Các tác giả thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả và can thiệp, sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng để khảo sát điều kiện lao động (khảo sát mức độ ô nhiễm môi trường theo thường quy kỹ thuật của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường (YHLĐ&VSMT), đánh giá tổ chức lao động và điều kiện an toàn vệ sinh lao động qua khảo sát và phỏng vấn) và tiến hành các giải pháp can thiệp cải thiện điều kiện lao động theo phương pháp WISE của ILO. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong môi trường lao động, nồng độ H2S và CO tại hộ gia đ́nh bằng hoặc vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) (nồng độ CO là 6,256 mg/m3 so với TCCP), tiếng ồn vượt TCCP từ 0,2 - 4,2 dBA. Tại các cơ sở sản xuất nha, nồng độ CO, SO2, NO2 cao hơn hàng chục lần TCCP. Tiếng ồn cao hơn TCCP từ 4,6 - 13,7 dBA (khu ḷ nấu). Về tổ chức lao động: 77 % người lao động làm việc trên 10 giờ/ngày. Có đến 45,4 % người lao động làm việc trong tư thế g̣ bó. Điều kiện vệ sinh và an toàn lao động: Cơ sở chật chội là 79 %, không thông thoáng gió là 33,8 % và 100 % người lao động chưa được tập huấn về ATVSLĐ. Tỷ lệ tai nạn lao động là 6,9 %, trong đó chấn thương chiếm 64,1 %, bỏng 19,2 %, điện giật 16,7 %. Cải thiện điều kiện lao động theo phương pháp WISE: 10/10 hộ gia đ́nh (100 %) tiến hành cải thiện điều kiện lao động, trong đó 76,6 % số cải thiện đăng kư được thực hiện về an toàn điện, hoá chất.Các tác giả đưa ra kiến nghị quy hoạch lại khu sản xuất. Tiếp tục cải tạo và xây dựng hệ thống cung cấp nước sạch đảm bảo vệ sinh. Khuyến khích cải thiện điều kiện lao động phù hợp với điều kiện địa phương.
Đánh giá t́nh h́nh sức khoẻ và chức năng thông khí phổi ở người lao động xay xát lúa gạo
Đỗ Anh TuấnViện Khoa học Kỹ thuật Bảo hộ lao động
Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành để đánh giá sức khoẻ và chức năng thông khí phổi trên người lao động tiếp xúc với bụi tại các cơ sở xay xát lúa gạo. Khám sức khoẻ, đo chức năng hô hấp và phỏng vấn về các triệu chứng hô hấp ở 100 người lao động và đo nồng độ bụi trong môi trường lao động tại ba cơ sở xay sát gạo. Kết quả nghiên cứu cho thấy nồng độ bụi hô hấp dao động từ 0,67 ± 0,12 mg/m3 đến 2,76 ± 1,17 mg/m3 (min 0,2 mg/m3; max 9,9 mg/m3). Bụi có nhiều bào tử nấm, các loại vi khuẩn nuôi cấy được Hormodendrum, Aspergillus flavus, Penicillinum. Nồng độ bụi silic tự do 1,58 ± 0,7mg/m3. Có 12 % người lao động có sức khoẻ loại 4, 36 % có sức khoẻ loại 3, 44 % có sức khoẻ loại 2 và 8 % có sức khoẻ loại 1. Các loại bệnh phổ biến là bệnh mắt (viêm kết mạc dị ứng 16 %, mộng mắt 6 %); da liễu (sẩn ngứa: 16 %, viêm da: 13 %). Các bệnh đường hô hấp như viêm phế quản mạn chiếm 6 %. Các hội chứng hạn chế 12 %, tắc nghẽn 9 %, hỗn hợp 6 %, hội chứng ngày thứ hai 16 %. Giảm chức năng thông khí phổi có tương quan chặt chẽ với số năm làm việc tiếp xúc với bụi.Bụi xay xát có ảnh hưởng đến sức khoẻ nói chung và gây một số bệnh đặc thù (mắt, da liễu) và giảm chức năng thông khí phổi. Cần áp dụng các biện pháp phù hợp cải thiện môi trường lao động, bảo vệ sức khoẻ người lao động xay xát lương thực.
Nghiên cứu điều kiện làm việc và sức khoẻ người lao động một số làng nghề
Nguyễn Thị Hồng Tú, Nguyễn Thị Liên Hương,Cục YTDP và pḥng chống HIV/AIDS
Nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang được tiến hành nhằm phát hiện các yếu tố độc hại do hoạt động sản xuất làng nghề, đánh giá ảnh hưởng của nó đến môi trường, sức khoẻ người lao động và dân cư, khả năng cung cấp dịch vụ y tế cho lao động làng nghề của y tế địa phương, chuẩn bị thử nghiệm biện pháp can thiệp nâng cao sức khoẻ cho người lao động tại một số làng nghề. Sử dụng bảng câu hỏi phỏng vấn 600 chủ hộ sản xuất tại 6 làng nghề; 1672 người lao động trực tiếp sản xuất; 135 người dân thuần nông. Khám sức khoẻ cho 450 cho người lao động và 135 người dân thuần nông. Giám sát môi trường lao động.Kết qủa nghiên cứu cho thấy 98,4 % hộ sản xuất có phát sinh các yếu tố độc hại gồm: ồn, nóng, bụi, sinh vật học, sử dụng lao động trẻ em, tư thế làm việc bất lợi vv... 83,3 % mẫu đo vi khí hậu và 100 % mẫu ánh sáng tại làng nghề chế biến thực phẩm, 100 % mẫu đo ồn ở các làng nghề sản xuất cơ khí, 91,3 % mẫu đo vi khí hậu, 75 % mẫu ánh sáng và 69,5 % mẫu bụi ở các làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP). Nh́n chung công nhân chưa nhận thức đầy đủ về tác hại của các yếu tố nguy cơ tại nơi làm việc. Tỷ lệ mắc bệnh của người lao động làng nghề 85,3 % cao hơn người dân trong các hộ thuần nông 58,5 % (p = 0,0000; RR = 1,46). Người lao động làng nghề cũng như người dân thuần nông đều có tỷ lệ sức khoẻ loại IV và V cao. Các bệnh hay gặp của người lao động làng nghề là tai mũi họng 56,3 %; răng hàm mặt 50,4 %, các bệnh ở mắt 24,8 %; các bệnh thần kinh 22,2 %; các bệnh ngoài da 18,3 %; bệnh cơ xương khớp 16 %; các bệnh đường tiêu hoá 11,1 %. Khi bị bệnh người lao động chủ yếu đến trạm y tế xă và bệnh viện/pḥng khám đa khoa nhà nước. Các h́nh thức chăm sóc y tế tại địa phương được người lao động ưa thích là kết hợp với y tế xă, có cán bộ y tế tại cơ sở và bảo hiểm y tế.Để nâng cao sức khoẻ cho người lao động làng nghề cần tăng cường công tác thanh kiểm tra; nâng cao nhận thức về an toàn vệ sinh lao động tại nơi làm việc; tiến hành các biện pháp cải thiện điều kiện lao động (phương pháp WISE) và nâng cao sức khoẻ theo hướng dẫn của WHO.
Đánh giá gánh nặng lao động của nữ điện thoại viên tổng đài 1080
Dương Khánh Vân, Nguyễn Ngọc NgàTạ Tuyết B́nh và cs.Viện YHLĐ & VSMT
Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá gánh nặng lao động của nữ điện thoại viên tổng đài 1080 để đề xuất các biện pháp cải thiện và nâng cao sức khoẻ cho chị em. Các phương pháp nghiên cứu trong đề tài bao gồm: Đánh giá điều kiện lao động, đánh giá căng thẳng thị giác, phỏng vấn đau mỏi cơ xương, đo thời gian phản xạ....Kết quả nghiên cứu cho thấy, tại một số nơi thiết kế chiếu sáng không tốt. Nồng độ CO2 trong pḥng làm việc c̣n cao quá tiêu chuẩn vệ sinh cho phép, tiếng ồn 60 – 64 dBA, cao hơn so với tiêu chuẩn quy định là 55 dBA. Thời gian làm việc tích cực cao (91 %)...Số người phàn nàn về đau mỏi cơ xương và các triệu chứng như đau đầu, buồn ngủ, mỏi mắt...chiếm tỷ lệ cao.Kết luận: Điều kiện lao động của những người làm việc tại tổng đài 1080 có nhiều yếu tố bất lợi. Tổ chức vị trí lao động và thiết kế nơi làm việc không hợp lư. Các tác giả đă đề xuất các biện pháp cải thiện.
Stress và yếu tố gây stress ở sinh viên nha khoa ở lớp học trong năm học đại học
Vivian Ng*, David Koh*, Betty Mok + , Qiuyun Fu*,Lum - Peng Lim + , Sin - Eng Chia** Department of Community, Occupational and Family Medicine.+ Department of Preventive Dentistry
Mục tiêu so sánh sự cảm nhận yếu tố gây stress và ngưỡng stress trong năm học thứ nhất về nha khoa (T1) và lớp kết thúc (T2) của năm học đại học. Nghiên cứu dọc trong một năm. Toàn bộ (n = 34) sinh viên nha khoa năm thứ nhất trả lời đầy đủ phiếu câu hỏi về stress môi trường nha khoa (DES) và thang cảm nhận stress 10 điểm ở lớp T1 và T2. Mỗi điểm được trả lời thang 4 điểm Likert (1 = “không có stress”, đến 4 = “rất stress”). Điểm 4 có nghĩa là “không thực hiện được”. Phiếu câu hỏi DES có những câu hỏi liên quan đến stress do việc học hành, các yếu tố lâm sàng, các yếu tố nghiệp vụ và hành chính và những yếu tố cá nhân. Thang cảm nhận stress (PSS) có điểm tối đa có khả năng đạt là 40, được dùng để đánh giá mức tự cảm nhận stress, cho là các thang trả lời có khoảng cách, và các câu hỏi có giá trị ngang nhau, chúng tôi tiến hành các mẫu kép, thử nghiệm T để phân tích số liệu.Kết quả: ở lớp T1 có 6 yếu tố gây stress xếp hạng cao có liên quan đến năm học đại học là “sợ không theo kịp và tụt hậu (điểm trung b́nh: 3,27)”, “sợ trượt (3,06)”, “thiếu thời gian học (3,03)”, “học tập khó khăn (3,00)”, “thi và xếp loại (3,29)”, “hoàn thành các yêu cầu tốt nghiệp (2,95)”. V́ sinh viên năm thứ nhất không có gánh nặng lao động lâm sàng, những điểm trên đây không phải phân tích ở lớp T2, có sự tăng điểm trung b́nh có ư nghĩa trong “những khó khăn khi học tập kỹ năng thao tác chính xác (2,45 - 2,94)” và “giữa các thày có sự đánh giá sinh viên không giống nhau (1,56 - 2,53)”. Trái lại, những điểm trung b́nh do “thiếu thời gian làm công việc nhà trường giao cho (3,03 - 2,53)” giảm có ư nghĩa (p < 0,05). Có sự khác nhau trong mức tự cảm nhận stress của cảm nhận stress (PSS) giữa lớp T1 (tổng điểm với SD: 21,03 ± 2,02) và lớp T2 (20,88 ± 3,44)Kết luận: Các sinh viên nha khoa chịu những yếu tố gây stress khác nhau vào những lúc khác nhau trong năm học đại học. Tuy nhiên, mức stress tự cảm nhận chung khá ổn định.
|