VỆ SINH LAO ĐỘNG

 

Kết quả điều tra 18 pḥng X-Quang tư nhân khu vực miền Trung

Viên Chinh Chiến, Phùng Thị Thanh Tú, Nguyễn Khắc Hải,

Lê Thị yến, Lê Thanh Tùng, Phạm Thanh Hùng

Viện Parter Nha trang

 

 Để đánh giá điều kiện lao động tại các pḥng X-quang y tế tư nhân và thực trạng sức khoẻ nhân viên tiếp xúc tại đó, chúng tôi đă tiến hành một nghiên cưú mô tả cắt ngang với 18 mẫu đại diện và 9 mẫu chùm. Kết quả nghiên cứu cho thấy:

 - 100 %  các pḥng không đạt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) về diện tích pḥng máy.

 - 11,1 %  số pḥng (2/18 pḥng) c̣n gây lọt tia do che chắn không tốt, tuy nhiên mức độ lọt tia không đáng kể (không vượt TCCP đối với khu vực khu dân cư).

 - Cường độ tia xạ tại vị trí nhân viên điều khiển không cao (nằm trong TCCP đối với khu dân cư).

 - Có các yếu tố bất lợi về vi khí hậu và ánh sáng, nhưng không nhiều.

 - Chưa có trường hợp nào bị bệnh nghề nghiệp song đă có 40 %  số người được kiểm tra có bất thường về số lượng bạch cầu (6 trường hợp giảm bạch cầu và 2 trường hợp có tăng bạch cầu). Ngoài ra c̣n có 6 trường hợp khác có giảm hồng cầu và 2 trường hợp tăng hồng cầu. Trong số 9 nhân viên có kết quả công thức máu th́ chỉ có 4 người có số lượng hồng cầu và bạch cầu hoàn toàn b́nh thường (trong ngưỡng sinh lư, chiếm 20 %).

Như vậy, các pḥng X-quang tư nhân tại miền Trung mới chỉ đạt tiêu chuẩn an toàn về che chắn, chưa đạt tiêu chuẩn về diện tích.

 

Tuyên truyền: Nâng cao vệ sinh an toàn lao động trong doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ

 

   Mục tiêu nhằm đánh giá hiệu quả công tác tuyên truyền và quan điểm quần chúng giúp các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ tư nhân (MSE) có hành động cụ thể để cải thiện vệ sinh an toàn lao động (VSATLĐ).

Dùng môi trường quần chúng cơ sở phân phát thông tin về VSATLĐ cho một số lớn các nhà doanh nghiệp MSE và công nhân, đánh giá tác động và định tính và định lượng. Phương pháp nghiên cứu dựa trên những kinh nghiệm sẵn có (trường hợp 7 nước) trong việc sử dụng tuyên truyền cho MSE và những bài học rút ra từ đó. Với tổ chức tuyên truyền và Viện Hàn lâm doanh nghiệp mới, chương tŕnh phát triển doanh nghiệp nhỏ của ILO đă chọn nước Ghana cho một chiến dịch thử nghiệm tuyên truyền về ATVSLĐ, sử dụng đài phát thanh và truyền h́nh. Mục tiêu nhằm vào 5 khu vực công nghiệp. Có một đặc điểm là lúc đầu những vấn đề về vệ sinh và an toàn không được biết đến, nhưng dần dần rút kinh nghiệm được từ những sai sót và những điển h́nh tốt ở những nơi khác, qua thời gian, các thính giả thấy được sự cải thiện lao động và thấy tốt hơn. Người ta đă điều tra trước và sau chiến dịch với trên 300 nhà doanh nghiệp MSE và công nhân tham gia. Chiến dịch thử nghiệm diễn ra 3 tháng và kết thúc năm 2003.

Kết quả là trên 90 %  được hỏi để đánh giá trả lời đă nghe thấy hoặc nh́n thấy chương tŕnh của chiến dịch (n = 85), họ có thể nhớ lại những bá phát biểu chủ yếu một cách chính xác. Những thay đổi chủ yếu là vệ sinh, sạch sẽ và ở một chừng mực nào đó đă cải thiện được sự chiếu sáng và thông gió chung.

Kết luận là công tác tuyên truyền có lượng thính giả đông đúc ở người lao động và người sử dụng lao động như ở các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, kinh tế tư nhân, với những thông tin đơn giản để cải thiện điều kiện VSATLĐ.

 

 

Chế tạo một vài loại phương tiện bảo vệ cơ quan hô hấp nhằm chống bệnh bụi phổi – silic

cho công nhân Trong nghề vật liệu xây dựng, đúc, khai thác than

 

Nguyễn Thế Công, Lưu Văn Chức, Nguyễn Văn Hội

Viện nghiên cứu KHKT bảo hộ lao động

  

Chế tạo trang bị bảo hộ cá nhân phù hợp với điều kiện Việt nam là một nhu cầu cấp thiết trong thời kỳ phát triển công nghiệp của nước ta. V́ vậy, nhóm nghiên cứu đă tiến hành chế tạo khẩu trang màng lọc có van thở (KTMLCVT) và bán mặt nạ một hộp lọc (BMNMHL) nhằm lọc bụi ở dải 1 - 5 mm với hiệu suất ³ 85 %.

 Qua khảo sát 6 cơ sở sản xuất để t́m hiểu nhu cầu, thiết kế kiểu dáng chọn kết cấu và nguyên vật liệu, nhóm nghiên cứu đă chế tạo được 130 KTMLCVT và 130 BMNMHL. Việc kiểm tra kỹ thuật cho thấy: Sản phẩm có chất lượng cao, khi đưa vào dùng thử tại khu công nghiệp Thái Nguyên đă được người sử dụng chấp nhận.

 V́ vậy, chúng tôi thấy, sản phẩm chế thử này đă đáp ứng được nhu cầu sử dụng và có thể góp phần ngăn ngừa bệnh Silicosis cho công nhân. Ngoài ra, nên chế tạo thêm cỡ số 1 và 3 cho BMNMHL để phù hợp với đặc điểm nhân trắc của người Việt Nam.

  

 

Thực hiện nơi làm việc tốt nhất,Cam kết chiến lược về Vệ sinh an toàn lao độngcủa Tân Tây Lan 

Graham Baker

Dịch vụ Vệ sinh và An toàn lao động,

Bộ Lao động, Tân Tây Lan

 

 

Dịch vụ Vệ sinh và an toàn lao động (VSATLĐ) Tân Tây Lan đang trải qua một sự thay đổi có ư nghĩa về phương hướng chiến lược đáp ứng với sự thay đổi pháp chế và sự tăng nhanh nhu cầu khách hàng với dịch vụ này. Dịch vụ này có 220 nhân viên với khoảng 160 trong số đó là thanh tra viên VSATLĐ nơi làm việc. Cho đến nay, đại bộ phận công việc của họ là điều tra tai nạn và những vi phạm tiêu chuẩn an toàn. Chỉ có một số nhỏ làm việc trong tuyên truyền giáo dục người lao động và người sử dụng lao động. Luật pháp gần đây, điều khoản tuyển dụng lao động và VSATLĐ (HSE) năm 1992 và HSE sửa đổi, 2002. yêu cầu người sử dụng lao động và người lao động có trách nhiệm hơn cho sự an toàn của chính ḿnh trong lao động. Công tác VSATLĐ được triển khai đáp ứng với chiến lược thực hiện nơi làm việc tốt nhất ở Tân Tây Lan. Chiến lược này phù hợp với Bộ Lao động với quan niệm về dịch vụ là khách hàng phải có được các thông tin, nhận thức, lời khuyên và hướng dẫn dễ dàng.

Gần đây, công tác VSATLĐ bảo đảm một chiến lược như: Có một thư viện quốc gia về thực hiện tốt nơi làm việc, với hướng dẫn, mă thực hiện, thông tin an toàn vv…, một cơ sở hạ tầng quản lư nhận thức, một trung tâm tiếp xúc cho khách hàng yêu cầu tư vấn, thông tin, một cơ sở dữ liệu gọi là “Workinfo” để thu thập và phân phát thông tin về nơi làm việc, tai nạn lao động…khắp Tân Tây Lan, kết hợp với chính quyền để trao đổi thông tin về nơi làm việc. 

  

T́nh h́nh môi trường lao động, sức khỏe và bệnh nghề nghiệp

tại các khu công nghiệp trong tỉnh Đồng Nai từ năm 1998 – 2002

  

Vũ Thị Giang

Trung tâm y tế khu công nghiệp Đồng Nai

  

            Nghiên cứu tiến hành nhằm đánh giá môi trường lao động, sức khỏe và bệnh nghề nghiệp tại các khu công nghiệp trong tỉnh Đồng Nai từ năm 1998 - 2002.

Kết quả cho thấy từ năm 1998 - 2002 môi trường lao động nh́n chung có chiều hướng tốt, riêng ồn vượt quá tiêu chuẩn vệ sinh (TCVS). Tỷ lệ mẫu hơi khí độc vượt tiêu TCCP có giảm (năm 2002 chỉ c̣n 12,05 %). Nồng độ dung môi vượt TCVS ở các cơ sở sản xuất đồ mộc, bao b́. Đă có sự thay thế các hoá chất trong công nghiệp da giầy. Hơi ch́ và Nicotin vẫn tăng. Phân loại sức khỏe trong 5 năm như sau: loại I: 18 – 20 %, loại II (49,31 %; 62,61 %; 37,34 %, 52,13 %, 50,98 %), loại III (24,94 %; 16,18 %; 33,85 %; 25,28 %; 26,56 %); loại IV và V: Tỷ lệ giảm nhiều. T́nh h́nh bệnh tật có chiều hướng gia tăng như viêm mũi họng cấp, măn; viêm ruột - dạ dầy cấp, măn tính; bệnh răng hàm mặt và mắt. Bệnh nghề nghiệp phổ biến nhất là điếc nghề nghiệp, bụi phổi-silic, gặp nhiều nhất ở ngành xây dựng và công nghiệp nặng; kế tiếp là bệnh nhiễm độc ch́, nhiễm độc Nicotin có tỷ lệ nhiễm khá cao mặc dù gặp ở ít cơ sở sản xuất.

Các tác giả yêu cầu các chủ doanh nghiệp phải đo kiểm tra môi trường lao động hàng năm; thực hiện các biện pháp kỹ thuật cải tạo môi trường, pḥng hộ cá nhân, khám sức khỏe định kỳ, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp cho công nhân theo luật định và cần tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn, tập huấn cho chủ doanh nghiệp cũng như người lao động về an toàn vệ sinh lao động.

 

 

 

Một số nhận xét về môi trường lao động của công nhân nhà máy luyện gang, công ty gang thép Thái Nguyên

 

Nguyễn Hữu Hạnh, Nguyễn Thị Khánh Hiệp

Công ty gang thép Thái Nguyên

Đỗ Hàm

Đại học Y khoa Thái Nguyên

 

Để đánh giá một cách có hệ thống môi trường lao động mà công nhân phải tiếp xúc để đưa ra những kiến nghị góp phần cải tạo môi trường lao động và bảo vệ sức khoẻ công nhân, đề tài đă được tiến hành tại nhà máy luyện gang, công ty gang thép Thái Nguyên.
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Công nhân luyện gang phải làm việc trong môi trường có vi khí hậu quá nóng, quá bụi và quá ồn. Các khu vực luyện đúc nhiệt độ trung b́nh từ 31 đến 340 C. Nhiệt độ cao nhất có khi tới 430 C. Tiếng ồn ở hầu hết các vị trí đo đều vượt vị trí cho phép (trên 90  dBA). Hầu hết các vị trí đo bụi đều vượt tiêu chuẩn cho phép từ 2 đến 17 lần, đặc biệt ở phân xưởng đúc (bụi hô hấp 64,2 - 94,2 mg/m3 không khí, bụi toàn phần 138 – 238 mg/m3).
Các tác giả đề xuất một số kiến nghị sau cần có những giải pháp về an toàn vệ sinh công nghiệp cho khu vực sản xuất gang. Trong khi chưa đầu tư kỹ thuật công nghệ mới, sạch việc khám sức khoẻ định kỳ thường xuyên là cần thiết. Tăng cường giáo dục công nhân về an toàn lao động và tự bảo vệ ḿnh trước các tác hại nghề nghiệp.

 

 

Bước đầu đánh giá ô nhiễm điện từ trư­ờng và công tác Pḥng hộ

tại một số cơ sở trị liệu bằng sóng điện từ tần số cao

  

Nguyễn Xuân Hiên, Đặng Ngọc Tuấn

Viện Y học lao động và VSMT

 

 

Với mục tiêu đánh giá thực trạng ô nhiễm điện từ trư­ờng (ĐTT) tần số cao tại một số cơ sở trị liệu sóng ngắn, đánh giá và đề xuất các biện pháp pḥng hộ, chúng tôi đă tiến hành nghiên cứu, đánh giá điện từ trư­ờng tần số cao và điều tra công tác pḥng hộ của 25 máy trị liệu sóng ngắn tại 16 cơ sở là các pḥng vật lư trị liệu của các khoa phục hồi chức năng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Mức độ ô nhiễm ĐTT nơi làm việc của nhân viên y tế tại các cơ sở trị liệu bằng ĐTT tần số cao v­ượt mức cho phép theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) 3718 – 82 ở trong một khoảng cách nhất định từ nguồn và cao hơn nhiều so với một số ngành khác có tiếp xúc với ĐTT tần số cao; cụ thể là:

Công tác pḥng hộ c̣n yếu: Phương tiện pḥng hộ cá nhân không có, pḥng ốc và bố trí máy c̣n tuỳ tiện, không có lồng Faraday; thiết bị có nhiều chủng loại từ nhiều nguồn khác nhau; ch­ưa có chế độ bồi d­ưỡng độc hại cho nhân viên tiếp xúc với ĐTT.

Trong quá tŕnh thực hiện đề tài, chúng tôi đă h­ướng dẫn các cơ sở thực hiện các biện pháp pḥng hộ đă nêu; đặc biệt là giảm thời gian tiếp xúc bằng cách thao tác nhanh và không ở trong vùng có c­ường độ ĐTT cao hơn mức cho phép. Đề nghị giải quyết chế độ bồi d­ưỡng độc hại cho nhân viên trị liệu bằng ĐTT tần số cao.

  

  

An toàn vệ sinh lao động trong tiếp xúc với hoá chất bảo vệ thực vật

vùng chuyên canh rau thành phố Thái Nguyên.

 

Phan Bích Hoà , Nguyễn Ngọc Anh

Trung tâm Y tế thành phố Thái Nguyên

Đỗ Hàm

Trường đại học Y khoa Thái Nguyên

 

Với mục tiêu t́m hiểu thực trạng về an toàn vệ sinh lao động, mức tiếp xúc với hoá chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) của người trồng rau và một số yếu tố nguy cơ thường gặp ở cộng đồng, chúng tôi đă tiến hành một nghiên cứu cắt ngang tại 428 hộ gia đ́nh chuyên canh rau của phường Túc Duyên thành phố Thái Nguyên.
Kết quả thu được như sau: Tỷ lệ có tiếp xúc với HCBVTV cao (chiếm 75,7 %  những người được điều tra), tỷ lệ phụ nữ trực tiếp đi phun HCBVTV là 53,1 %, có 10,7 %  HCBVTV dưới 18 tuổi. HCBVTV thường được sử dụng là: Bassa, Difterex, Monitor, Padan, Wofatox, Serpa. Bao b́, chai lọ đựng thuốc sâu vứt bừa băi tại nơi phun (55,8 %). Hầu hết người dân đều ư thức được HCBVTV là độc hại, nhưng kiến thức và thực hành vệ sinh an toàn trong sử dụng HCBVTV c̣n yếu.
Nhóm nghiên cứu đă đưa ra các khuyến nghị về biện pháp dự pḥng như: Cần tổ chức tập huấn công tác vệ sinh an toàn trong sử dụng HCBVTV cho người dân. Định kỳ khám lâm sàng kết hợp với xét nghiệm cận lâm sàng để phát hiện nhiễm độc HCBVTV măn tính trong cộng đồng người trồng rau.

 

Môi trường lao động và sức khoẻ của công nhân

tại một số nhà máy xí nghiệp quốc pḥng 

 

Nguyễn Quang Hùng, Nguyễn Kim Dung

Lê Như Hoa, Chu Hồng Vân và cs.

Viện Vệ Sinh Pḥng Dịch Quân Đội

 

 

            Nghiên cứu thực trạng môi trường lao động của 17 nhà máy, xí nghiệp quốc pḥng đại diện cho các ngành như dệt may (3 xí nghiệp), vật liệu xây dựng (3 xí nghiệp), hoá chất (4 nhà máy), cơ khí (7 nhà máy) và t́nh h́nh mắc bệnh nghề nghiệp của công nhân, đề xuất các giải  pháp khắc phục.
            Kết quả nghiên cứu cho thấy về  môi trường lao động, tiếng ồn 58/64 phân xưởng (chiếm 90,63 %) vượt giới hạn tiêu chuẩn vệ sinh cho phép (TCVSCP).  100 % mẫu bụi đều vượt giới hạn TCVSCP từ 1,3 – 1,6 lần, TNT: Tại 60 điểm đo của 4 nhà máy đều vượt giới hạn TCVSCP từ 2 – 3 lần, 70,10 % mẫu Ch́ vượt TCVSCP từ 1,3 – 2,6 lần, các loại a - xít (HCL, H2SO4) có tỷ lệ các mẫu  vượt TCVSCP từ 20 – 32  %, xét nghiệm nước thải, các chỉ số BOD5và COD đều vượt giá trị nồng độ giới  hạn từ 1,6 – 2 lần.
            Về t́nh h́nh mắc  bệnh nghề  nghiệp của công nhân: điếc nghề nghiệp chiếm 22,13 %, nhiễm độc TNT nghề nghiệp : 26,32 %, với các biểu hiện đặc trưng viêm gan măn tính, viêm loét dạ dày tá tràng, suy nhược thần kinh, suy nhược cơ thể, thiếu máu, chiếm tỷ lệ 26,32 %.

 

 

 

Nghiên cứu thực trạng môi trường lao động  trên các đoàn tầu khách và các giải pháp 

 

Phạm Văn Hùng và cộng sự

Trung tâm y tế dự pḥng Đường sắt

 

 Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá môi trường lao động trên các thế hệ toa xe khách thuộc Liên hiệp đường sắt Việt Nam và kiến nghị các giải pháp. Đề tài đă sử dụng phương pháp điều tra, tổng hợp, phân tích diễn giải..., đưa ra các giải pháp khoa học công nghệ phù hợp với điều kiện kinh tế xă hội Việt Nam nói chung và sự phát triển của ngành Đường sắt Việt Nam nói riêng.

Kết quả nghiên cứu cho thấy: Môi trường trên các loại toa xe khách thế hệ cũ: Không có điều hoà không khí, nhiệt độ, độ ẩm, vận tốc gió cao, thấp thường phụ thuộc vào thời tiết. Nhiệt độ ở mức 25 - 350 C; độ ẩm 64 – 78 %; tốc độ gió từ 0,1 - 0,5 m/s; tiếng ồn trên 80 dBA. Việc quản lư, thu gom, xử lư rác thải khó khăn, thiết bị phục vụ trong toa xe không phù hợp, không đảm bảo vệ sinh. Môi trường trên các loại toa xe thế hệ mới có trang bị điều hoà không khí luôn có sự ổn định về nhiệt độ, độ ẩm trong toa xe. Thường nhiệt độ ở mức 24,5 - 25,50 C; độ ẩm ổn định ở mức 64 - 70 %; tốc độ gió từ 0,1 - 0,3 m/s; tiếng ồn dưới 75`dBA. Việc quản lư, thu gom, xử lư rác thải thuận lợi; điều kiện phục vụ trên toa xe (thiết bị vệ sinh, nước sinh hoạt...) được cải thiện.
Các tác giả đưa ra các kiến nghị, các giải pháp đảm bảo vệ sinh môi trường, nâng cao chất lượng phục vụ – bước đầu thu được những kết quả đáng khích lệ. Đây không chỉ là cơ sở để ngành đường sắt phát triển bền vững mà c̣n có ư nghĩa trách nhiệm với cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống.

 

  

Hiện trạng môi trường lao động và những vấn đề về an toàn sức khoẻ nghề nghiệp trong ngành sản xuất vật liệu xây dựng 

 

Nguyễn Trinh Hương, Nguyễn Sơn Lâm

Dự án giảm thiểu ô nhiễm trong ngành sản xuất vật liệu xây dựng

  

Sản xuất vật liệu xây dựng là một ngành có nhiều đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước.
Để đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường lao động, t́nh h́nh an toàn sức khoẻ nghề nghiệp nhằm đề xuất các biện pháp tăng cường công tác chăm sóc môi trường và sức khoẻ người lao động trong ngành, dự án “Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm trong ngành sản xuất vật liệu xây dựng” đă tiến hành nghiên cứu với việc thực hiện khảo sát môi trường, điều tra xă hội học, hồi cứu số liệu rồi phân tích tổng hợp vấn đề.
Kết quả cho thấy: Môi trường lao động bị ô nhiễm bụi, hơi khí độc, tiếng ồn, nhiệt, rung…với nhiều bất hợp lư và nguy cơ gây tai nạn trong lao động sản xuất. V́ vậy, công nhân hay mắc các bệnh đường hô hấp, mắt, tai mũi họng, cơ xương, thần kinh và nhất là bệnh bụi phổi-silic. Đặc biệt là có mối quan hệ nhất định giữa ô nhiễm môi trường và hiện trạng bệnh tật trong công nhân.
Chính v́ vậy, đề tài đă đề nghị ngành sản xuất vật liệu xây dựng cần quan tâm đến việc phối hợp áp dụng các biện pháp như thay đổi công nghệ, kiểm soát tại nguồn, ứng dụng kỹ thuật mới, hợp lư hoá lao động, pḥng ngừa tai nạn lao động, tăng cường vệ sinh công nghiệp như thu gom chất thải, trang bị bảo hộ lao động, nhà tắm, nhà vệ sinh, nhà ăn, cung cấp nước uống…

 

 

Tăng cường ảnh hưởng của công nghiệp

trong việc đánh giá hoá chất độc ở Mỹ&thế giới

 

Jennifer Sass, Ph.D.

Health and Environment Program

Natural Resources Defense Council

 

 Người ta chú ư nhiều đến xu thế khoa học phổ biến gần đây là tăng cường ảnh hưởng công nghiệp đến cơ quan chính quyền bảo vệ vệ sinh công cộng. Bài b́nh luận này minh hoạ phương pháp gây ảnh hưởng này, sử dụng những thí dụ từ cơ quan bảo vệ môi trường (EPA) Hoa Kỳ. Những ước tính định lượng nguy cơ của EPA xác định các yêu cầu làm vệ sinh ở những nơi có rác thải độc hại và điều chỉnh các hoá chất trong không khí, nước, đất và thực phẩm. ảnh hưởng công nghiệp trong những quá tŕnh này được minh hoạ trong những thí dụ về các chất ô nhiễm hoá học như clorua vinyl, 1,3-butadien, và atrazin. ảnh hưởng của những công nghiệp được điều chỉnh được tăng rơ rệt trong một số uỷ ban tư vấn của chính phủ Hoa Kỳ, giảm các công tác vệ sinh công cộng và gần đây được đơn vị quốc tế của Tổ chức y tế thế giới về nghiên cứu ung thư (IARC) quyết định. Trong mọi lĩnh vực của chính phủ đều có cơ hội tư vấn, cho ư kiến, đầu vào công nghiệp phải được giới hạn một cách thích hợp và những yêu cầu về luật pháp để phát hiện những mâu thuẫn về lợi ích và sự cân đối lợi ích, phải được tuân theo triệt để.

 

 

Hệ thống thiết bị đánh giá hiệu quả lọc bụi rắn của các phương tiện bảo vệ cơ quan hô hấp lọc bụi. 

 

Đặng Quốc Nam, Trần Thanh Hương, Nguyễn Thị Thuư Hằng

Viện nghiên cứu KHKT Bảo hộ lao động

 

 Ở nước ta hiện nay, chất lượng khẩu trang bảo hộ lao động (chống bụi) chưa được kiểm soát chặt chẽ. Để tăng cường kiểm soát chất lượng các trang bị lọc bụi bảo vệ cơ quan hô hấp của người lao động, Viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động đă thiết kế hệ thống thiết bị đánh giá hiệu quả lọc bụi rắn của phương tiện bảo hộ theo tiêu chuẩn châu Âu EN143: 1990.

 Hệ thống gồm thiết bị tạo bụi rắn với bầu phun sương Collison (dùng NaCl 1 %); thiết bị phân tích (Grimm - CHLB Đức) các hạt bụi có kích thước 0,26 đến 2 mm (chia thành 12 dải).
 Hệ thống thiết bị lắp xong đă đạt và vượt các tiêu chuẩn kỹ thuật so với thiết bị cùng loại DEHS của trường Đại học tổng hợp Minnesota. Qua vận hành hệ thống thiết bị này để đánh giá một số phương tiện bảo hộ trên thị trường cho thấy: Phần lớn khẩu trang và bán mặt nạ hiện hành ở nước ta có hiệu quả lọc bụi thấp, không thể dùng để pḥng chống nguy cơ nhiễm bệnh bụi phổi cho công nhân.
 Như vậy, Viện nghiên cứu KHKT Bảo hộ lao động  đă thành công trong việc chế tạo hệ thống thiết bị đánh giá khẩu trang, đáp ứng các yêu cầu theo tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả lọc bụi của khẩu trang bảo hộ lao động EN143:1990. Qua đây cho thấy, các cơ quan hữu quan cần tăng cường công tác kiểm soát chất lượng phương tiện bảo vệ cơ quan hô hấp trên thị trường Việt Nam.

 

 

 

An toàn vệ sinh lao động và các vấn đề phát triển khác ở nền kinh tế không chính thức: các vấn đề đó liên quan với nhau như thế nào? 

 

Richard Rinehart (1),  William Salter (2)

(1) Chuyên gia về điều kiện lao động, Bang Washington, Hoa Kỳ

(2) Chuyên gia cao cấp về điều kiện lao động, Chương tŕnh điều kiện lao động và Việc làm của ILO, Geneva, Thụy Sĩ

 

         Báo cáo này gợi ư những dự án riêng biệt giúp đỡ các vấn đề An toàn vệ sinh lao động trực tiếp cho các chủ doanh nghiệp và công nhân trong các doanh nghiệp nhỏ và rất nhỏ và trong kinh tế không chính thức thường không thành công tiếp cận đến đông đảo mọi người và không bền vững.

Bằng tổng quan tài liệu các tác giả đă xem xét các tài liệu đă xuất bản và các báo cáo của ILO liên quan đến điều kiện làm việc xấu. Nhiều tài liệu đă chỉ ra t́nh trạng điều kiện an toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) xấu; một vài tài liệu mô tả các biện pháp can thiệp đưa ra hoặc đề nghị những cách cải thiện t́nh h́nh.  Những tài liệu khác không liên quan trực tiếp đến cải thiện điều kiện ATVSLĐ, nhưng tập trung vào các vấn đề lao động tại nhà, bảo vệ bà mẹ, b́nh đẳng giới, các dịch vụ y tế, cơ sở hạ tầng, tiếp cận vốn và bảo hiểm, nhạy bén về kinh doanh, và vv...  Bao gồm các vấn đề này là do mối quan hệ qua lại với các quan điểm về điều kiện làm việc và điều kiện sống ở những người được quan tâm
Khi nhiều nhóm kinh doanh hoặc hướng tới phát triển làm việc với điều kiện làm việc xấu, th́ họ thường tổ chức những việc cần phải làm của họ xung quanh mục tiêu phát triển mà không nhận ra có liên quan đến ATVSLĐ. Phần lớn họ bị hạn chế trong phạm vi tác động qua lại theo gianh giới lĩnh vực chuyên ngành trong các nhóm quan trọng của các tổ chức với các quyền lợi được xác định như nhau.  Trong lịch sử, họ không ưu tiên các vấn đề về điều kiện làm việc và điều kiện sống trong sự phát triển của toàn bộ loài người. Tuy nhiên, các ví dụ từ Châu á và các vùng khác cho thấy các dự án có phương pháp tiếp cận được cân nhắc kỹ đă t́m ra sự xâm nhập vào các biện pháp cải thiện ATVSLĐ và giảm đói nghèo.  Các xâm nhập đó được lồng ghép về cả phương diện con người làm việc với các quyền lợi của các ban ngành và về phưưong diện các hoạt động mà họ làm việc với những người được hưởng lợi từ địa phương.
Các hoạt động trong tương lai nhằm cải thiện ATVSLĐ trong các doanh nghiệp nhỏ và rất nhỏ và trong kinh tế không chính thức bằng con đường bền vững và đến với nhiều người có thể có hiệu quả và hỗ trợ hơn, một chiến lược phát triển kinh tế xă hội của đất nước.

 

 

Vệ sinh công nghiệp tại Aventis việt nam

 

Thomas Cosentinos   Environment Health Safety, Aventis

        Robert Diep Environment Health Safety Officer, Aventis Viet Nam

 

 

Tại Aventis Việt Nam, Chương tŕnh Vệ Sinh Công Nghiệp (CTVSCN) chú trọng vào mức độ tiếp xúc của người lao động đối với bụi dược, tiếng ồn và hoá chất. CTVSCN thuộc chính sách Môi trường, Sức khoẻ và An toàn (MT - SK - AT) của tập đoàn Aventis và đă được nâng cao kể từ năm 2001 với việc sử dụng máy đo bụi cá nhân, Buck Basic - 5 gắn với lọc Solvent Resistant và Styrene Acrylonitrile để giám sát mức độ tiếp xúc với các loại bụi dược. Các mẫu của hoạt chất Alimenazine Tartrate, với mức tiếp xúc (MTX) có giới hạn thấp nhất, được lấy các thao tác liên quan đến công việc, và gửi đến Trung tâm kiểm nghiệm tại Bridgewater, New Jersey để phân tích. Kết quả phân tích chung được gửi về Aventis Việt Nam để tính toán và kết luận.
Sau khi kết quả lấy mẫu lần thứ nhất được công bố, các hành động chấn chỉnh đă được thực hiện: Mua thiết bị mới, nâng cấp máy hút bụi đang sử dụng và cung cấp thiết bị bảo hộ lao động có độ lọc cao. Kết quả lấy mẫu lần thứ nh́ cho thấy mức độ tiếp xúc của người lao động thấp hơn MTX cho phép (MTX được lập ra bởi tập đoàn Aventis cho từng họat chất). Kế hoạch đo tiếng ồn đă tiến hành với việc sử dụng máy đo tiếng ồn liên tục cho 8 giờ làm việc. Kế hoạch đo mức độ tiếp xúc với hoá chất đă bắt đầu tiến hành cho pḥng Kiểm Nghiệm Hoá bằng cách sử dụng thiết bị Diffuser Detection Tubes cho 8 giờ làm việc
Dựa vào các kết quả này, một kế hoạch pḥng ngừa (Đánh giá nguy cơ) và hành động chấn chỉnh đă được thực hiện nhằm bảo đảm bảo sự tuân thủ các điều luật của Chính Phủ Việt Nam và chính sách của tập đoàn Aventis.

 

 

Sử dụng Mẫu cá nhân đánh giá liều tiếp xúc của công nhân với As2O3 trong không khí nơi làm việc

 

Nguyễn Quốc Thức, Đặng Minh Ngọc

Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường

              

Trong nhiều năm, việc sử dụng mẫu môi trường chưa đánh giá sát mức tiếp xúc của công nhân luyện kim mầu Thái Nguyên với As2O3. Thống kê của y tế cơ sở cho thấy, hàng năm có tới 10 - 12 %  công nhân bị nhiễm độc A-sen. Nghiên cứu này áp dụng phương pháp lấy mẫu cá nhân và phân tích mẫu tiên tiến của NIOSH nhằm tăng cường khả năng đánh giá nguy cơ ảnh hưởng của môi trường tới sức khoẻ người lao động.
Kết quả nghiên cứu trên 29 mẫu cho thấy: 18/29 mẫu cá nhân (lấy ngẫu nhiên đơn) có kết quả cao hơn ngưỡng cho phép. Mẫu cá nhân trong nghiên cứu cho kết quả ổn định, mô tả sát mức tiếp xúc thực tế của công nhân với As2O3 trong các ca làm việc (từ 0,002 đến 0,360mg/m3). Thực tế áp dụng cho thấy: Phương sai giữa các mẫu đo của một nghề trong cùng một phân xưởng là từ 9 - 58 %. Trong khi đó, phương sai giữa các mẫu môi trường trong khu vực sản xuất thường là từ 50 – 200 %. Mặt khác, từ mẫu cá nhân chúng ta sẽ tính được liều tiếp xúc và suy ra lượng A-sen có thể đưa vào cơ thể qua đường hô hấp sau mỗi ca làm việc để đánh giá nguy cơ nhiễm độc.
Kết quả phân tích mẫu cũng cho biết: Công nhân luyện kim  mầu đang phải tiếp xúc với một hàm lượng A-sen trong không khí khá cao, nguy cơ nhiễm độc A-sen là khá lớn.
Qua đây cho thấy, nên tăng cường áp dụng phương pháp lấy mẫu cá nhân để đánh giá sát hơn nguy cơ nhiễm độc của công nhân qua đường hô hấp. Cần phối hợp nhiều biện pháp nhằm cải thiện hơn nữa môi trường lao động, hạn chế mức tiếp xúc của công nhân với A-sen trong công nhân luyện kim mầu Thái Nguyên.

 

 

 

 

nh hưởng của Môi Trường lao động lên sức khoẻ công nhân công ty đá ốp lát và xây dựng b́nh định  

 

Tŕnh Công Tuấn và cộng sự

Trung tâm Y tế dự pḥng B́nh Định

 

ở B́nh Định, công nghiệp khai thác chế biến khai thác đá đang phát triển mạnh. Nồng độ bụi trong môi trường lao động khá cao, với hàm lượng SiO2 lớn. Năm 1992, đă có 6 nữ trong độ tuổi lao động bị chết v́ bệnh bụi phổi-silic phối hợp với lao phổi. V́ vậy, nghiên cứu này đặt ra mục tiêu t́m hiểu các yếu tố tác hại nghề nghiệp trong môi trường lao động, t́nh h́nh bệnh tật, sức khoẻ của công nhân và t́nh h́nh bệnh bụi phổi-silic trong công nhân ở công ty đá ốp lát và xây dựng B́nh Định nhằm đề xuất giải pháp  can thiệp. Đề tài được tiến hành theo phương pháp dịch tễ học mô tả cắt ngang kết hợp với hồi cứu số liệu từ 1998 – 2002 trong 183 công nhân (chọn mẫu có nguy cơ cao).
Kết quả nghiên cứu môi trường cho thấy: làm lượng bụi ở nhiều nơi vượt tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN). (hàm lượng SiO2 là 24 - 42 %). Kết quả khám sức khoẻ cho thấy: Tỉ lệ hiện mắc bệnh bụi phổi-silic là 8,4 %; tuổi nghề càng cao th́ tỉ lệ mắc càng cao, trong đó xấp 50 %  số mắc ở thể nhẹ 1/0 p; 1/2p; 3/3p. Tỉ lệ bệnh bụi phổi-silic kết hợp với lao là 1,2 %, tỉ lệ rối loạn chức năng hô hấp là 38,8 %. Trong khi đó, các loại khẩu trang hiện dùng hầu như không lọc được bụi hô hấp.

 

Nghiên cứu đặc điểm môi trường lao động của một số khí tài quân sự sử dụng pḥng kín

 

Trần Văn Tuấn,  Lê Khắc Đức

Khoa vệ sinh môi trường, Học viện quân Y

  

            Nghiên cứư được tiến hành vào mùa hè năm 2003 tại một số đơn vị quân đội: Binh chủng tăng thiết giáp, quân chủng Pḥng không không quân, binh chủng Thông tin. Các loại khí tài đặc trưng là: Xe tăng T54, máy bay MIG 21, xe thông tin P140. Kết quả nghiên cứu cho thấy về mùa hè, nhiệt độ không khí trong các loại khí tài đều cao, cực đại đến trên 500 C. Nhiệt độ WBGT cao trên 330 C. Kết quả khảo sát về tiếng ồn cho thấy xe tăng T54 phát ra tiếng ồn cao nhất, xe P140 thấp nhất. Tiếng ồn cực đại của xe tăng đo được là 127 dBA. Tiếng ồn chung của từng loại lần lượt là: 118 ± 5,6; 100 ± 5,5 và 91,7 ± 1,5 dBA. Ngoài ra, với xe P140 thấy có ô nhiễm trường điện từ, các loại xe khác không pháp hiện được. Tỷ lệ khí CO2 với các loại xe đều như nhau trước và sau lao động. Qua nghiên cứu thấy xe T54 có đặc điểm ô nhiễm chính là: Vi khí hậu nóng và ồn lớn; Máy bay MIG 21: vi khí hậu nóng và ồn; xe P140: Vi khí hậu nóng và trường điện từ. Tính tổng hợp các yếu tố ô nhiễm th́ mức cho phép đều vượt trên 2 lần.

 

Thực trạng môi trường lao động và sức khoẻ công nhân sản xuất phân hoá học tại Công ty supe phốt phát và hoá chất Lâm Thao

 

                     

Nguyễn Thị Vinh, Nguyễn Thế Công, Hoàng Minh Hiền, Vũ  Xuân Trung, Nguyễn Đức Hồng

 Viện Nghiên cứu Khoa Học Kỹ Thuật Bảo Hộ Lao Động

   

            Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 106 công nhân tại ba xí nghiệp sản xuất phân Supe phốt phát đơn và NPK thuộc Công ty supe phốt phát và hoá chất Lâm Thao, nhằm đánh giá ảnh hưởng của môi trường lao động độc hại tới sức khoẻ người lao động.
            Kết quả nghiên cứu cho thấy nồng độ NH3 trong phân xưởng nghiền của xí nghiệp NPK vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) 1,5 lần, nồng độ HF tại các gian sản xuất điều chế thuốc trừ sâu vượt TCCP từ 3 - 4 lần. Đặc biệt 5/7 điểm đo có nồng độ bụi vượt TCCP từ 1,5  -  9 lần, tỷ lệ SiO2 tự do trong bụi ở hầu hết các phân xưởng được đo đều cao. Mức ồn tại hầu hết các vị trí làm việc đều vượt TCCP /8 giờ làm việc, nhất là tại các vị trí gian máy nghiền mức ồn xấp xỉ và vượt 100 dBA. Kết quả khám lâm sàng cho thấy bệnh tai mũi họng chiếm 77,35 %, bệnh đường tiêu hoá 39,62 %, bệnh về răng lợi 22,64 %.... Tỉ lệ tổn thương men răng ở nhóm công nhân tiếp xúc Flo nghề nghiệp cao hơn so với nhóm không tiếp xúc. Tỷ lệ công nhân có biểu hiện tổn thương sức nghe là 14,3 %, và tỷ lệ công nhân nghi ngờ mắc bệnh bụi phổi-silic 11,11 %.
            Các tác giả đă đề xuất một số biện pháp nhằm góp phần bảo vệ sức khoẻ người lao động.  

 

 

Đánh giá môi trường làm việc tại một số công ty điện thoại, điện báo, bưu điện tỉnh - thành phố  

 

Lê Thị Yến, Nguyễn Quang Khanh, Nguyễn Xuân Hiên,

Nguyễn Quốc Thức, Nguyễn Tuyết Mai, Đặng Ngọc Tuấn

Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường

  

Mục tiêu của nghiên cứu là khảo sát vệ sinh, đo và đánh giá các yếu tố vật lư, hoá học trong môi trường lao động tại ba công ty điện thoại, điện báo (ĐTĐB), bưu điện tỉnh thành phố Hà Nam, Việt Tŕ, Thái B́nh.
Kết quả nghiên cứu cho thấy:
Các cơ sở đều được thiết kế theo đúng quy định về vệ sinh an toàn lao động. Các yếu tố vật lư: Điện từ trường (ĐTT) ĐTT – R nằm trong khoảng 0,0 – 25 V/m, mật độ ḍng năng lượng từ 0,0 - 69,00 mw/cm2; ĐTT tần số công nghiệp từ 1,5 – 547 V/m và 12 - 7.300 mA/m; độ chiếu sáng từ 85 - 338 lux; nhiệt độ từ 20 - 27,50 C và rất ít nguồn phát sinh hơi khí độc. ở đa số những vị trí đă đo, các yếu tố môi trường như như: Điện từ trường, hơi khí, vi khí hậu, chiếu sáng đều đạt tiêu chuẩn vệ sinh. Một số ít vị trí có ĐTT công nghiệp cao hơn mức cho phép (pḥng điện báo và pḥng 108 của Công ty ĐTĐB Thái B́nh) do bố trí dẫy máy chưa hợp lư; nồng độ CO2 vượt giới hạn cho phép ở pḥng đầu dây và pḥng viba của bưu điện Hà Nam; pḥng 108 và pḥng tính số liệu của bưu điện Thái B́nh.
Tác giả đă đề nghị một số biện pháp cải thiện môi trường lao động như tách riêng các bàn điều khiển, máy phát sóng viba ra khỏi nơi nhân viên điều khiển máy; sắp xếp lại vị trí màn h́nh vi tính để đuôi màn h́nh không quay vào người làm ở dẫy kề cận; thông thoáng tốt hơn cho các pḥng chật hẹp và có nhiều người làm việc; tăng cường chiếu sáng ở một số vị trí làm việc với màn h́nh có mức chiếu sáng chưa đạt tiêu chuẩn.